Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các khái niệm liên quan kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 1. Kiểm tra Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê: “Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [19]. Theo Phạm Hữu Tòng: “Kiểm tra là sự theo dõi, tác động của người kiểm tra đối với người học nhằm thu được những thông tin cần thiết để đánh giá” [32].
Theo tác giả trong [24, tr.5]: “ KT được xem là phương tiện và hình thức của ĐG. Việc KT cung cấp những dữ kiện, những thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc ĐG. Trong DH có một số loại KT chủ yếu là: KT thăm dò, KT kết quả, KT xếp thứ bậc và KT năng lực tổng thể có định hướng; mỗi loại có một mục đích riêng. Thi cũng là KT nhưng có tầm quan trọng đặc biệt” Theo tác giả trong [17, tr.5]: “Kiểm tra kết quả học tập của HS là quá trình xác định mục đích, nội dung, lựa chọn phương pháp, tập hợp số liệu, bằng chứng để xác định mức độ đạt được của người học trong quá trình học tập, rèn luyện và phát triển.
Kiểm tra bao gồm xác định mục tiêu kiểm tra, công cụ kiểm tra và sử dụng kết quả kiểm tra, tức là đánh giá”. Từ các quan điểm nêu trên chúng tôi nhận thấy quan điểm của tác giả trong [17, tr.5] là phù hợp với quan điểm kiểm tra mà chúng tôi đang xét đến. Đánh giá Theo bảng thuật ngữ đối chiếu Anh - Việt: “Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc” [9, tr. Luan van 8 Theo tác giả Đỗ Ngọc Thống: “ĐG là sự đối chiếu với mục tiêu đào tạo đã đề ra mà xác định được chất lượng của kết quả đào tạo và tự đào tạo đối với HS trong nhà trường”.
Còn theo Trần Bá Hoành: “ĐG là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc” [13, tr. Chúng tôi nhận thấy, về KT-ĐG, các định nghĩa trên thống nhất với nhau ở các điểm sau: Mục đích đánh giá là gì? Sẽ sử dụng công cụ nào để đánh giá? Sẽ thu thập những bằng chứng gì? Sẽ phân tích các chứng cứ ấy bằng phương pháp nào? Sử dụng kết quả phân tích ấy như thế nào? Từ đó chúng tôi đồng nhất với khái niệm ĐG của tác giả Trần Bá Hoành là phù hợp với quan điểm đánh giá mà chúng tôi đang xét đến. Đánh giá kết quả học tập KQHT của HS là khái niệm chỉ những thành tựu học tập trực tiếp của HS, do hoạt động học tập của học sinh mang lại, thể hiện ở những mục tiêu học tập cụ thể HS đạt được trong những lĩnh vực nhận thức, hành động, xúc cảm sau một quá trình học tập. Theo Hoàng Đức Nhuận, Lê Đức Phúc: “ĐG kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của GV và nhà trường, cho bản thân HS để họ học tập ngày một tiến bộ hơn” [32, tr.
Luan van 9 Theo tác giả trong [17, tr.5]: “Đánh giá kết quả học tập của HS là một quá trình thu thập các thông tin về kiến thức, kỹ năng, thái độ của HS một cách đầy đủ, đúng đắn, chính xác với năng lực của HS, từ đó so sánh với một tập hợp các tiêu chí thích hợp của mục tiêu đã xác định nhằm đưa ra quyết định theo một mục đích nào đó giúp điều chỉnh quá trình dạy học tốt hơn.” Từ đó, chúng tôi đồng nhất với khái niệm ĐG KQHT của HS như sau: “ĐG kết quả học tập của HS là quá trình thu thập, phân tích và xử lí thông tin về kết quả học tập của HS; trên cơ sở đó, đối chiếu với mục tiêu của môn học, của lớp, của nhà trường tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của GV, nhà trường và cho bản thân HS để họ học tập ngày một tiến bộ hơn” [31, tr. Theo quan điểm trên, đánh giá thực hiện đồng thời hai chức năng: vừa là nguồn thông tin phản hồi về quá trình dạy và học, vừa góp phần điều chỉnh chính quá trình này. Để có thể thực hiện tốt các chức năng trên, việc đánh giá kết quả học tập của HS cần đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục, có tính hệ thống và toàn diện, đảm bảo tính khách quan và công khai; những yêu cầu trên đây cũng chính là những thước đo giá trị của đánh giá. Các công cụ kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Có rất nhiều công cụ có thể dùng ĐG KQHT của HS.
Một số công cụ phổ biến thường dùng như: bài kiểm tra tự luận, câu hỏi trắc nghiệm khách quan, bài tập (bài tập ở lớp, bài tập ở nhà), bài thực hành, dự án học tập, báo cáo thực nghiệm, phiếu hỏi, phiếu quan sát .Mỗi công cụ đều có những ưu, nhược điểm và khả năng đo khác nhau. Trong đề tài này, chúng tôi trình bày bài kiểm tra tự luận và câu hỏi trắc nghiệm khách quan. Bài kiểm tra tự luận Khái niệm: Là loại hình câu hỏi hoặc bài tập mà HS phải tự viết đầy đủ các câu trả lời hoặc bài giải theo cách riêng của mình. Thông qua đó, GV cho điểm hoặc xác định mức độ kết quả của bài thi.
Luan van 10 Mục đích: KT kiến thức, kĩ năng, tính sáng tạo, tư duy của HS thông qua việc làm bài của bản thân HS, đồng thời giúp GV nhìn nhận, ĐG trình độ học vấn của HS thông qua bài làm. Ưu điểm: Có khả năng đo lường được các mục tiêu đã xác định trước; rèn luyện cho HS có thói quen tập suy diễn, tổng quát hoá, tìm mối tương quan giữa các sự kiện khi học bài hay soạn bài; tạo điều kiện giúp hình thành và phát triển tư duy lôgic, tư duy sáng tạo. Khi HS tự mình sáng tạo, giải quyết vấn đề theo đường hướng mới hoặc tự do sắp đặt ý tưởng, óc sáng kiến có cơ hội phát triển nhiều hơn khi chỉ chọn lựa những câu trả lời cho sẵn; tạo cơ hội cho HS luyện cách hành văn khoa học, sắp đặt ý tưởng để có thể diễn đạt tư tưởng một cách hữu hiệu hơn; dễ soạn hơn câu hỏi trắc nghiệm. Khuyết điểm: Việc ĐG các phương án trả lời cũng như bài giải của HS sẽ thiếu tính khách quan vì phụ thuộc nhiều vào chủ quan của người chấm; việc chấm bài khó khăn, mất nhiều thời gian; điểm số có độ tin cậy thấp vì khó xác định được một cách đơn trị các tiêu chí ĐG, cũng như chứa nhiều yếu tố ngẫu nhiên (tâm trạng và sự mệt mỏi của người chấm, thứ tự các bài chấm, chữ viết.) có thể ảnh hưởng đến việc cho điểm; số lượng câu hỏi ít nên khi giảng dạy cũng như KT, GV chú trọng truyền đạt kiến thức trọng tâm dẫn đến việc học tủ, học lệch.
Trắc nghiệm khách quan Khái niệm: TNKQ là dạng trắc nghiệm trong đó mỗi câu hỏi có kèm câu trả lời sẵn (câu hỏi đóng), gọi là TNKQ vì chúng đảm bảo tính khách quan khi chấm điểm. Loại câu hỏi này nêu lên vấn đề cần trả lời và cho những thông tin cần thiết để HS chọn lựa để trả lời một cách ngắn gọn và HS phải trả lời theo một khuôn khổ định sẵn, không thể đưa ra ý kiến nào khác của mình. Ưu điểm: Trong thời gian ngắn có thể kiểm tra được nhiều đơn vị kiến thức, đi được vào nhiều khía cạnh khác nhau của một đơn vị kiến thức nên có thể chống lại khuynh hướng học tủ, học lệch của HS; việc chấm điểm tương Luan van 11 đối dễ dàng, chính xác và khách quan không phụ thuộc vào người chấm đồng thời phân tích được kết quả kiểm tra dựa vào lập trình trên máy tính và phương tiện kỹ thuật hiện đại; dựa trên cơ sở khoa học xác suất và thống kê có thể dễ dàng dùng lý thuyết trắc nghiệm và công cụ để xử lý các thông tin thu được về mặt định lượng, do đó có thể nâng cao chất lượng của từng câu hỏi TNKQ. Khuyết điểm: Không đánh giá sâu được năng lực tư duy, sáng tạo, cách trình bày hợp logic và thể hiện tính thẩm mỹ trong bài làm của học sinh; việc nắm vững kiến thức có thể giúp học sinh lựa chọn đúng phương án trả lời, tuy nhiên có thể “ đoán mò” để trả lời; việc soạn thảo câu hỏi TNKQ thường rất khó, rất công phu, nhất là đối với câu hỏi đánh giá khả năng tư duy ở bậc cao và tốn kém chi phí, thời gian thử nghiệm.
Trong các công cụ nêu trên thì công cụ trắc nghiệm khách quan đánh giá khá chính xác mức độ nhận thức của học sinh và phù hợp với xu thế KT- ĐG của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo vì hiện nay Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã chính thức sử dụng câu hỏi TNKQ bốn lựa chọn để kiểm tra, đánh giá học sinh trong các kì thi quan trọng. Chính vì thế, chúng tôi đi sâu vào phân tích bộ câu hỏi TNKQ bốn lựa chọn làm công cụ chính để KT-ĐG KQHT trong luận văn này mà không phân tích nội dung, hình thức các kiểu câu trắc nghiệm như: câu ghép đôi, câu điền thế và câu đúng/sai. * Câu hỏi trắc nghiệm khách quan bốn lựa chọn Dạng câu hỏi này gồm 2 phần là phần dẫn và phần lựa chọn, đồng thời đây là dạng câu hỏi khó viết nhất và có độ tin cậy cao nhất. Phần dẫn: Là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng (chưa hoàn thành).
Yêu cầu là nêu ra một vấn đề hay đưa ra một ý tưởng rõ ràng nhằm giúp cho người làm bài có thể hiểu rõ câu trắc nghiệm muốn đòi hỏi điều gì để lựa chọn câu trả lời thích hợp.