phần mở đầu, kết thúc, danh mục bảng biểu và các từ viết tắt, Luận văn đƣợc kết cấu làm bốn phần có nội dung nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở khoa học Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Tình hình thực hiện các cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng. Chƣơng 4: Một số đề xuất nhằm tăng cƣờng mức độ thực hiện các cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng trong WTO. 3 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC 1. 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong ngành dịch vụ tài chính, dịch vụ ngân hàng là một trong lĩnh vực gay go khi đàm phán vào WTO do đây luôn là ngành "huyết mạch" của nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào, đòi hỏi các bƣớc đi thận trọng khi mở cửa thị trƣờng.
Việc thực thi các cam kết trong ngành ngân hàng tạo ra nhiều sức ép đối với hệ thống pháp luật Việt Nam sao cho vừa tạo điều kiện cho các ngân hàng trong nƣớc tăng sức cạnh tranh, không bị "thôn tính" bởi các ngân hàng nƣớc ngoài trong khuôn khổ các cam kết với WTO. Cho đến nay đã có đề án của Chính phủ; nhiều công trình nghiên cứu giá trị của các nhà kinh tế về vấn đề thực hiện đánh giá Cam kết của Việt Nam về dịch vụ Ngân hàng trong WTO. Chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2020 vừa đƣợc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI thông qua đã xác định rõ “Tạo lập đồng bộ và vận hành thông suốt các loại thị trƣờng… Phát triển thị trƣờng tài chính với cơ cấu hoàn chỉnh, quy mô tăng nhanh, phạm vi hoạt động mở rộng, vận hành an toàn, đƣợc quản lý và giám sát hiệu quả”; “Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh, bảo vệ ngƣời tiêu dùng”. Chiến lƣợc phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2010 và định hƣớng đến năm 2020 kèm theo Quyết định số 112/2006/QĐ-TTg ngày 24/05/2006 đã xác định định hƣớng hoàn thiện hệ thống pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng đến năm 2010 nhƣ sau: Xây dựng môi trƣờng pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng minh bạch và công bằng nhằm thúc đẩy cạnh tranh và bảo đảm an toàn hệ thống tiền tệ, ngân hàng.
Các chính sách và quy định pháp luật về tiền tệ, hoạt động ngân hàng góp phần tạo môi trƣờng lành mạnh và động lực cho các tổ chƣc tín dụng, doanh nghiệp và ngƣời dân phát triển sản xuất kinh doanh. Loại bỏ các hình thức bảo hộ, bao cấp, ƣu đãi trong lĩnh vực ngân hàng và phân biệt đối xử giữa các tổ chức tín dụng. 4 z Ngoài những đề án của Chính phủ, liên quan tới vấn đề thực hiện cam kết của Việt Nam về dịch vụ Ngân hàng trong WTO còn có rất nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, tiêu biểu nhƣ: Đề tài Nghiên cứu khoa học thuộc Nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ theo Nghị định thƣ:“Nghiên cứu phát triển thị trƣờng tài chính trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Kinh nghiệm của Hàn Quốc và vận dụng vào Việt Nam” của PGS, TS Nguyễn Thị Quy.
Đề tài đã tổng hợp và khái quát những vấn đề cơ bản về phát triển thị trƣờng tài chính trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó, đề tài cũng nghiên cứu tự do hóa tài chính và các cam kết tự do hóa tài chính trong WTO; và Trên cơ sở nghiên cứu các cam kết tự do hóa tài chính trong WTO, đề tài đã nghiên cứu phát triển thị trƣờng tài chính và hội nhập tài chính theo WTO tại Việt Nam. Qua đó, đề tài đã đúc kết các thành tựu và hạn chế trong quá trình tự do hóa theo WTO. Đề tài đã tìm hiểu và nghiên cứu kinh nghiệm phát triển hệ thống ngân hàng thƣơng mại Hàn Quốc, các ngân hàng đầu tƣ và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng ở Hàn Quốc.
Đề tài đã nghiên cứu kinh nghiệm phát triển các sản phẩm tài chính mới của Hàn Quốc bao gồm kinh nghiệm phát triển thị trƣờng trái phiếu chính phủ, thị trƣờng trái phiếu doanh nghiệp, thị trƣờng cổ phiếu, các sản phẩm chứng khoán phái sinh, các sản phẩm chứng khoán bất động sản, các sản phẩm chứng khoán phái sinh mới. Trên cơ sở những phân tích từ những kinh nghiệm đó, đề tài đã rút ra những bài học để vận dụng vào Việt Nam. Luận văn thạc sỹ với đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thƣơng mại Việt nam trong bối cảnh thực hiện cam kết gia nhập tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO) của tác giả Nguyễn Thị Thu Nga (2009), luận văn thạc sỹ với đề tài “Các cam kết của Việt Nam trong WTO về mở cửa dịch vụ ngân hàng và những vấn đề đặt ra đối với khung Pháp lý về dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Hoàng Thị Thanh Thúy (2010)… Trong các luận văn thạc sỹ này, các tác giả đã nêu ra những cam kết của Việt Nam về dịch vụ ngân hàng theo WTO, những thách thức và khó khăn trong quá trình thực hiện các cam kết cũng nhƣ đƣa gia những giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động, để cải cách hệ thống pháp luật ngân hàng… 5 z Qua nghiên cứu, rà soát các tài liệu có liên quan, có thể nhận thấy rằng những luận văn này mới dừng lại ở việc đánh giá khả năng thực hiện, thuận lợi và khó khăn khi thực hiện nhƣng chƣa đánh giá đƣợc việc triển khai các cam kết này của Việt Nam, cũng nhƣ chƣa tổng kết đánh giá lại hệ thống ngân hàng Việt Nam sau bảy năm thực hiện cam kết và định hƣớng nhằm tăng cƣờng mức độ thực hiện trong thời gian tới. Chính vì vây, tác giả đã nghiên cứu về thực trạng thực thi các cam kết về dịch vụ ngân hàng theo WTO của Việt Nam và đƣa ra một số giải pháp kiến nghị nhằm tăng cƣờng mức độ thực hiện trong giai đoạn tới.
Cơ sở lý luận: Dịch vụ Ngân hàng trong WTO 1.1 Khái niệm về dịch vụ ngân hàng. Trong phụ lục đính kèm theo Hiệp định GATS, dịch vụ ngân hàng đƣợc xếp chung vào nhóm dịch vụ tài chính.Theo định nghĩa của GATS, dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính do một nhà cung cấp dịch vụ tài chính của một thành viên thực hiện. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (trừ bảo hiểm). Theo GATS, các dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (trừ bảo hiểm) đƣợc phân thành các loại cơ bản sau: - Nhận tiền gửi hoặc đặt cọc và các khoản tiền có thể thanh toán khác của công chúng.
- Cho vay dƣới các hình thức, bao gồm tín dụng tiêu dùng, tín dụng thế chấp, bao tiêu nợ và tài trợ các giao dịch thƣơng mại - Thuê mua tài chính - Mọi dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ tín dụng, thẻ thanh toán và báo nợ, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng - Bảo lãnh và cam kết - Kinh doanh tài khoản của mình hoặc của Khách hàng, dù tại sở giao dịch và trên thị trƣờng không chính thức, hoặc các giao dịch khác về: Công cụ thị trƣờng tiền tệ (gồm séc, hóa đơn, chứng chỉ tiền gửi); Ngoại hối; 6 z Các sản phẩm tài chính phái sinh, bao gồm nhƣng không hạn chế các hợp đồng kỳ hạn (Futures) hoặc hợp đồng chọn (options); Các sản phẩm dựa trên tỷ giá hối đoái và lãi suất, gồm các sản phẩm nhƣ hoán đổi (swarps), hợp đồng tỷ giá kỳ hạn; Chứng khoản có thể chuyển nhƣợng Các công cụ có thể chuyển nhƣợng khác và tài sản tài chính, kể cả kim khí quý. - Tham gia phát hành mọi loại chứng khoán, kể cả bảo lãnh phát hành và chào bán nhƣ đại lý và cung cấp dịch vụ liên quan tới việc phát hành đó; - Môi giới tiền tệ; - Quản lý tài sản, nhƣ tiền mặt hoặc quản lý danh mục đầu tƣ, mọi hình thức quản lý đầu tƣ tập thể, quản lý quỹ hƣu trí, dịch vụ bảo quản, lƣu giữ và tín thác; - Các dịch vụ thanh toán và quyết toán tài sản tài chính, bao gồm chứng khoán, các sản phẩm tài chính phái sinh và các công cụ thanh toán khác; - Cung cấp và chuyển thông tin về tài chính, xử lý dữ liệu tài chính và phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác; - Các dịch vụ về tƣ vấn, trung gian môi giới và các dịch vụ tài chính phụ trợ khác liên quan đến các hoạt động nêu từ điểm (v) đến (xv), kể cả tham khảo và phân tích tín dụng, nghiên cứu, tƣ vấn đầu tƣ và danh mục đầu tƣ, tƣ vấn mua sắm và về cơ cấu lại hoặc chiến lƣợc doanh nghiệp.2 Các phương thức cung cấp dịch vụ ngân hàng Ngay tại Điều 1 của Hiệp định GATS đã nêu rõ các phƣơng thức cung cấp dịch vụ trên phạm vi quốc tế theo bốn (04) phƣơng thức. Việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng cũng đƣợc thực hiện theo các phƣơng thức này, cụ thể nhƣ sau: Phƣơng thức 1: Di chuyển qua biên giới: tức là dịch vụ đƣợc di chuyển qua biên giới của các nƣớc khác nhau mà không có sự di chuyển con ngƣời. Ví dụ: Một ngân hàng Hoa Kỳ cung cấp dịch vụ cho vay cho một ngân hàng của Việt Nam.
Nhà cung cấp dịch vụ không nhất thiết phải lập bất kỳ một hiện diện nào trên lãnh thổ nƣớc tiêu dùng dịch vụ. Phƣơng thức này chỉ có thể tìm thấy ở dịch vụ, nhờ đặc tính vô hình của loại hàng hóa này. 7 z Phƣơng thức 2: Tiêu dùng ngoài lãnh thổ: Phƣơng thức này đề cập tới những dịch vụ đƣợc các công dân của một nƣớc tiêu dùng trên lãnh thổ một nƣớc khác nơi dịch vụ đƣợc cung cấp. Ví dụ: Ngƣời du lịch Việt Nam đi du lịch sang Hoa Kỳ và sử dụng dịch vụ thanh toán thẻ do các ngân hàng Hoa Kỳ cung cấp.
Phƣơng thức 3: Hiện diện thƣơng mại: Để cung cấp dịch vụ tại nƣớc tiêu dùng, nƣớc cung cấp dịch vụ sẽ tiến hành thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, liên doanh hoặc công ty con tại một nƣớc khác để cung cấp dịch vụ. Đây là phƣơng thức khá phổ biến hiện nay.