Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về mục đích, nhiệm vụ của luận văn cũng như phương pháp nghiên cứu và giới hạn. Với nhiệm vụ chính là cải tiễn thuật toán MPPT trên nền fuzzy và bao gồm việc tìm hiểu những thuật toán MPPT trước đó và thuật điều khiển fuzzy để hỗ trợ cho luận văn này. CAI TIEN THUAT TOAN MPPT TREN NEN FUZZY. CHUONG I: MO DAU LUẬN VĂN THẠC SĨ -4-- CBHD: TS.
NGUYEN QUANG NAM HVTH: DANG QUANG VINH CHUONG 2. TONG QUAN DE TAI Trong chương này, luận văn giới thiệu sơ lược về năng lượng mặt trời như tiềm năng và tình hình sử dụng năng lượng mặt trời ở Việt Nam và trên thế giới. Đồng thời tìm hiểu những nghiên cứu trước đây nêu ra những vấn đề còn hạn chế và hướng giải quyết của luận văn. Giới thiệu năng lượng mặt trời.
Mặt trời là nguồn bức xạ khổng 16, đường kính 1.4 triệu Km, dưới dạng lò nhiệt hạch, tổng hợp hidro thành heli. Lượng vật chat mat đi được chuyên hóa thành năng lượng điện từ có giá trị khoảng 3.8x10”°MW bức xạ khỏi bề mặt ra ngoài không gian [I]. Trái đất nhận 174,000TW từ bức xạ mặt trời trên bề mặt khí quyên, 30% lượng này bị phản chiếu lại không gian và phần còn lại được hấp thụ bởi mây, đại dương và vùng đất như minh họa hình 2-1[2]. năng lượng bị phản xạ bị phản xạ bị phảnxạbởi bứcxạtừ bức xạ từ mặt trời bởi không khí bởimây bẻ mặt mặt đất khôngkhí trái đất 33 : hâp thụ bởi £ khôn khí hập thụ ae 8 bức xạ bởi không khí 12 truyền nhiệt vào không khí nhiệt độ hơi nước §9 PW bị hấp thụ bởi đất và đại dương Hình 2-1.
Mặt trời chuyền tải năng lượng đến trái đất. CẢI TIỀN THUẬT TOÁN MPPT TRÊN NÊN FUZZY CHUONG II: TONG QUAN PE TAI LUẬN VĂN THẠC SĨ --5- CBHD: TS. NGUYEN QUANG NAM HVTH: DANG QUANG VINH Quang phổ ở trái đất từ mặt trời hầu hết là khoảng thấy được và gần hồng ngoại và số ít là gần tử ngoại. Hầu hết con ngươi sống trên trái đất là trong vùng bức xạ 150 -> 300W/m” hay 3.
Bức xạ mặt trời được hấp thụ bởi đại đương, làm bay hơi nước từ đại dương để tuần hoàn hay đối lưu không khí, hơi nước thành mây ở độ cao có nhiệt độ thấp và sau đó là hình thành mưa. Cây xanh sử dụng ánh sáng mặt trời dé quang hợp. Tổng năng lượng mặt trời hấp thụ bởi không khí, đại đương và mặt đất tương đương 3,850,000 exajoules(EJ)/ năm, lớn hơn tổng năm lượng trên toàn thế giới sử dụng trong năm 2002. Lượng bức xạ mặt trời nhận được phụ thuộc vào vị trí địa lý, càng gần xích đạo lượng bức xạ nhận được lớn hơn.
Hệ thống bám theo giúp khai thác năng lượng mặt trời nơi có vị trí địa lý xa đường xích đạo. Năng lượng thu được từ mặt trời có thể là nhiệt năng hoặc điện năng. Chuyên đổi trực tiếp ánh sáng mặt trời sang điện năng bằng bộ thu PV. Năng lượng nhiệt thu được bằng hệ thống tập trung năng lượng mặt trời (CSP) [3].
Bộ thu PV là thiết bị chuyển đổi ánh sáng sang dòng điện nhờ vào hiệu ứng quang điện. Minh họa sơ đồ nối lưới của hộ dân sử dụng bộ thu PV như hình 2-2 [3]. Bộ thu PV được hộ dân sử dụng và nối lưới. CẢI TIỀN THUẬT TOÁN MPPT TRÊN NÊN FUZZY CHƯƠNG II: TÔNG QUAN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ --6- CBHD: TS.
NGUYEN QUANG NAM HVTH: DANG QUANG VINH Năm 1880, Charles Fritts la người đầu tiên xây dụng ra tế bào quang. Năm 1931, kỹ sư người Duc Bruno Lange phat triển tế bào quang sử dụng selenium biến đổi ánh sáng trực tiếp <1% sang điện. Năm 1954, những nhà nghiên cứu Geraid Pearson, Calvin Fuller and Daryl Chapin tạo ra tế bào quang. Giá tế bào quang này 286USD/Wat và đạt hiệu suất 4.
CSP còn được gọi là “tập trung nhiệt mặt trời”, sử dụng kính hoặc gương và hệ thống bám theo đề tập trung khoảng rộng mặt trời thành một điểm nhỏ, CSP sử dụng độ nóng của bức xạ mặt trời để phát ra điện từ tuabin hơi truyền thống. Loại CSP phổ biến là máng Parabol bao gồm bộ phản chiếu tuyến tính tập trung ánh sáng lên bộ nhận, bộ nhận được đặt ở đường tiêu cự dọc theo bộ phản chiếu. Bộ nhận có hình ống được đặt đúng trên vị trí trung tâm của gương parabol, bên trong bộ nhận được lắp đầy bằng dung dịch truyền nhiệt. Bộ phản chiếu được hỗ trợ bởi hệ thống bám theo có thê theo hướng di chuyên của mặt trời suốt cả ngày.
Hệ thống máng parabol cho đặc tính tốt nhất khi sử dụng trên đất liền với công nghệ mặt trời như nhà máy SEGS ở Califonia và Nevada Solar One của Acciona gần Boulder City [3]. tia sáng Jt mặt trời _ tia sáng 4. mặt trời Xe trời Ông hâp thụ =4 ^^ ° mat troi <a - Tiêu cự Bộ phản chiêu máng - parabol «.Z Ông dân môi chất ‘ \ £ Hình 2-3: Mô hình CSP (máng Parabol). Trong năm 2010, phòng năng lượng quốc tế dự đoán công suất PV toàn cầu có thê đạt tới 3000GW hay 11% dự án điện toàn cầu phát ra trong năm 2050 — đủ CẢI TIỀN THUẬT TOÁN MPPT TRÊN NÊN FUZZY CHƯƠNG II: TÔNG QUAN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ -7- CBHD: TS.
NGUYEN QUANG NAM HVTH: DANG QUANG VINH phát ra 4,500TW điện. Trong năm 2014, lên dự án viễn cảnh “tái tạo cao”, 2050 có thể cung cấp 27% tổng lượng năng lượng toàn cầu (PV: 16% và CSP: 11%). Tình hình sử dụng năng lượng mặt trời trên thế giới [4]. Số lượng PV lắp đặt trên toàn cầu không ngừng tăng lên mỗ năm từ 1990 đến 2015.
Trong 2015, dung lượng dự án lắp đặt 55,000MW. Dữ liệu từ EPIA (European Photovoltaic Industry Association). MW 60,000 50,000 40,000 30,000 20,000 10,000 T T I T 2002 2006 2010 2014 Dung lượng tăng lên hàng nắm từ 2000 (MW) [_ lắp đặthàngnăm INNdự án trong 2015(55. Biểu đồ dung lượng lắp đặt PV tăng lên mỗi năm.
MW Ọ 100,000 10,000 1,000 ® 2015: Dự án 233,000 MW 100 1995 1999 2003 2007 2011 2015 Dung lượng PV tăng lên toàn câu (MW) từ năm 1992 Hình 2-5. Biểu đồ dung lượng PV toàn cầu từ năm 1992 đến nay. CẢI TIỀN THUẬT TOÁN MPPT TRÊN NÊN FUZZY CHƯƠNG II: TÔNG QUAN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ --8-- CBHD: TS. NGUYEN QUANG NAM HVTH: DANG QUANG VINH Như hình 2-5, tông dung lượng PV đang được sử dụng trên toàn cầu tăng lên mỗi năm gần như là hàm mũ (Dữ liệu từ EPIA).
Tình hình năng lượng mặt trời tại Việt Nam. Tiềm năng năng lượng mặt trời [5]. Nhìn chung thì việt Nam có thê được xem là quốc gia có nhiều tiềm năng về năng lượng mặt trời. Nguồn mặt trời dồi dào có thể so sánh với những quốc gia như Ý, Tây Ban Nha, và California hay Trung Quốc hoặc Thái Lan.
Theo dự án lập bản đồ bởi liên doanh nghiên cứu Tây Ban Nha về dự đoán các nguồn năng lượng tổng quan trong Việt Nam có thể thu được 4-5kW/m”/ngày (GHI) trong hầu hết vùng phía nam, trung tâm và vài vùng phía bắc Việt Nam (tương ứng 1,460-1,825 Wh/m”/năm), mức bức xạ đỉnh trung bình 5.5 kW/m”/ngày ở một số vùng ở phía nam (tương đương 2000 Wh/m”/năm). Bản đồ bức xạ trung bình như hình 2-6. Được xuất bản bởi MoIT trong 2015. BANG DO BUC XA MAT TROI CUA VIET NAM BANG DO BUC XA MAT TROI CAU VIET NAM Công suất trung bình hàng ngày GHI Cổng suất trong bình hàng ngày DNI mô mma:‡:55 285 3.85 mm 5 mm: Hình 2-6.
Bản đồ mức bức xạ trung bình/ngày. CẢI TIỀN THUẬT TOÁN MPPT TRÊN NÊN FUZZY CHUONG II: TONG QUAN PE TAI LUẬN VĂN THẠC SĨ --9-- CBHD: TS. NGUYEN QUANG NAM HVTH: DANG QUANG VINH Thị trường năng lượng PV của Việt Nam hiện giờ rất nhỏ khoảng 4.5 MWp được lắp đặt vào cuối 2014. Khoảng 80% dung lượng PV không kết nối lưới và 20% dung lượng còn lại kết nối lưới.
Với dung lượng không kết nối, ứng dụng được chia làm hai loại chính như sau: thứ nhất là ứng dụng cho hộ gia đình (đèn, gia dụng .) hay không gia dụng như (phát truyền hình, BTU. Loại khác là kết hợp với cơ sở ha tang cho quan ly năng lượng (lưới nhỏ) hoặc nguồn năng lượng truyền thống phát disel hoặc thủy điện. Căn bản có thể chia làm hai loại nhỏ như ứng dụng Pico PV tới IkWp như đèn mặt trời hoặc bộ nạp bin mặt trời, hệ thống nhà mặt trời (SHS) cho hầu hết ứng dụng gia dụng, hệ thống PV lớn hơn nữa được ứng dụng cho trường học hoặc trung tâm y tế. Dung lượng cho những hệ thống này từ đưới IWp (cho loại Pico PV) đến 1 kWp và lớn hơn là hệ thống độc lập.
Có nhiều công nghệ và cấu trúc hệ thống khác nhau trong vận hành bao gồm hệ thống độc lập, hệ thống kết hợp (PV với diesel hay gid hoac acqui) và bao gồm lưới PV loại nhỏ với lưới hạ tầng. Với hệ thống kết nối lưới chủ yếu là dựa vào loại mô đun tinh thể định hình có kích cỡ khác nhau. Chúng được kết nối thành chủm trên mái nhà (tương đương 1-50kWp), loại PV mái nhà công nghiệp hoặc thương mại (>40kWp) và lớn hơn nữa thì được gắn dưới đất. Hầu hết tất cả được kết nối lưới cho mục đích triển lãm hoặc thí điểm.
Theo dữ liệu có sẵn, 60 ~70% dung lượng không nối lưới trong Việt Nam phân lớn là những ứng dụng nhỏ như hệ thống nhà mặt trời (SHS), trạm truyền nhận thông tin liên lạc nhỏ, hệ thống đèn công cộng. Khoảng 30~40% dung lượng không nối lưới như trạm mạng địa phương và hệ thống thủy điện cách ly lưới ở vùng sâu vùng xa hay đảo. Dự án năng lượng mặt trời tại Việt Nam [5]. Cuối 2014, ở Việt Nam có khoảng 15,000 ứng dụng PV không nối lưới với tổng dung lượng 3,600kWp, hầu hết lớn hơn 200Wp và vài trong số đó lớn hơn IkWp.
Trong đó có 5000 hệ thống nhà mặt trời (SHS) với dung lượng 200Wp, CẢI TIỀN THUẬT TOÁN MPPT TRÊN NÊN FUZZY CHƯƠNG II: TÔNG QUAN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ ¬ CBHD: TS. NGUYEN QUANG NAM HVTH: DANG QUANG VINH 2.100 hệ thống thông tin liên lạc và BTS (300~400Wp), lớn hơn 1000 là hệ thống PV loại nhỏ (20~100Wp), và 2000 ứng dụng cho hệ thống đèn công cộng (50~250Wp) được lắp đặt dọc theo đường và đường cao tốc. Hệ thống PV với dung lượng lớn như: dự án làng Bài Hương ở Cù Lao Cham (28kWp +20kW DG), va cac dự án khác là ở Mang Yang Tây Nguyên tỉnh Gia Lai (100kWp PV + 24kWp thủy điện). Có khoảng 50 dự án kết hợp trên các đảo và đồn hải quân.