phần mở đầu và phần kết luận thì đề tài đƣợc chia thành 4 chƣơng: Chƣơng 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG TRONG NGÀNH SẢN XUẤT THIẾT BỊ CÔNG NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngành quản lý chất lƣợng. Cơ sở lý luận về quản lý hệ thống quản lý chất lƣợng trong ngành sản xuất thiết bị công nghiệp. Cơ sở thực tiễn các hoạt động.
Chƣơng 2 - PHƢƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN 2. Cơ sở số liệu nghiên cứu.2 Phƣơng pháp nghiên cứu.3 Khung nghiên cứu đề tài Chƣơng 3 - THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG TẠI CÔNG TY TNHH ABB 3. Giới thiệu chung về công ty TNHH ABB 3. Thực trạng quản lý hệ thống quản lý chất lƣợng công ty TNHH ABB 3.
Nhận xét, đánh giá chung về quá trình quản lý hệ thống quản lý chất lƣợng công ty TNHH ABB Chƣơng 4 - CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO QUẢN LÝ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG TẠI CÔNG TY TNHH ABB 4. Định hƣớng phát triển và khuyến nghị nhằm nâng cao quá trình quản lý chất lƣợng tại công ty TNHH ABB 4. Một số kiến nghị với các cấp quản lý KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt Tiếng Anh 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG TRONG NGÀNH SẢN XUẤT THIẾT BỊ CÔNG NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngành quản lý chất lƣợng.
Ngành quản lý chất lƣợng với lịch sử phát triển lâu dài, đã có những bƣớc phát triển vƣợt bậc trong hơn 80 năm trở lại đây. Các hoạt động thực hành quản lý chất lƣợng hiện đại ban đầu đƣợc tạo ra từ 2 giai đoạn là kiểm tra hàng loạt từ những năm đầu 1990 và kiểm soát theo đồ thị từ những năm 1930. Kiểm tra hàng loạt trở lên phổ biến nhƣ là kết quả từ lý thuyết Quản Lý Khoa Học của Frederick TayLor. Ngƣời công nhân khi đó dừng sản xuất để thử kiểm tra chất lƣợng công việc của họ thay vì chuyển công việc sang những ngƣời kiểm tra đƣợc đào tạo.
Mặc dù công việc kiểm tra là 1 nhân tố quan trọng trong quản lý chất lƣợng nhƣng phải đến khi Walter Shewhart tạo ra biểu đồ kiểm soát quá trình thì quản lý chất lƣợng mới thực sự đƣợc đƣa lên là một nghề. Nhận thức về động lực và thái độ của ngƣời lao động là nhân tố đƣa “quản lý chất lƣợng” trở lên phổ biến trong những năm đầu 1930 theo kết quả nghiên cứu từ Elton Mayo Hawthorne tại Western Eletric. Bƣớc nhảy vọt tiếp theo về quản lý chất lƣợng trong nhƣng năm thế chiến thứ 2, khi mà các sản phẩm không đạt chất lƣợng có thể gây đến cái chết của con ngƣời. Cùng thời gian đó, các công ty Mỹ nhận đƣợc đơn hàng sản xuất ra các sản phẩm chính xác theo yêu cầu.
Rất nhiều kỹ thuật quản lý chất lƣợng nhƣ giá trị chấp nhận mẫu và biểu đồ kiểm soát quy trình đƣợc đƣa ra trở thành bắt buộc theo yêu cầu đặt hàng của Bộ Quốc phòng Mỹ. Để đạt mục tiêu chính của quản lý chất lƣợng nhằm thỏa mãn nhu cầu ngƣời tiêu dùng, thì các hoạt động kiểm tra chất lƣợng chƣa phải là điều kiện đủ. Nó đòi hỏi việc áp dụng phƣơng pháp kiểm soát chất lƣợng vào các quá trình trƣớc khi tiến hành sản xuất và kiểm tra nhƣ quá trình khảo sát thị trƣờng, nghiên cứu, lập 5 z kế hoạch, phát triển, thiết kế và mua hàng.từ đó khái niệm quản lý chất lƣợng toàn diện ra đời. Trong nghiên cứu của mình, Feigenbaun (1951) đã đƣa ra lý thuyết quản lý chất lƣợng toàn diện.
Trong những năm gần đây, cùng với sự ra đời của nhiều kỹ thuật quản lý mới, góp phần nâng cao hoạt động quản lý chất lƣợng nhƣ hệ thống vừa đúng lúc (Just In Time) đã là cơ sở lý thuyết cho quản lý chất lƣợng toàn diện. Nhà nghiên cứu quản lý chất lƣợng nổi tiếng thế giới Joseph Juran (1951) đã đƣa ra khái niệm sổ tay quản lý chất lƣợng với thuyết tam luận chất lƣợng: Kế hoạch hóa chất lƣợng, quản lý chất lƣợng và cải tiến chất lƣợng Philip Crossby (1960) đã đƣa ra khái niệm “không có sai lỗi”. Một số nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về quản lý chất lƣợng tại các công ty sản xuất tại Việt Nam và các nƣớc trên thế giới. - Phan Chi Anh và Yoshiki Matsui (2005) Quản lý chất lƣợng và năng lực cạnh tranh - ảnh hƣởng thực tế từ ISO9000 tới các công ty sản xuất Việt Nam.
Nghiên cứu trên 400 doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam năm 2004, mục tiêu nghiên cứu của tác giả Phan Chi Anh hƣớng đến tình trạng thực hiện ISO 9000 tại các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam. Nghiên cứu hƣớng tới mối quan hệ giữa quá trình thực hiện hệ thống quản lý chất lƣợng ISO 9000 và các chỉ số KPI (Key Performance Index) tại các doanh nghiệp sản xuất. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra, trƣớc khi áp dụng hệ thống quản lý chất lƣợng ISO 9000, hầu hết các chỉ số đo hoạt động KPI từ doanh nghiệp sản xuất Việt Nam dựa trên các chỉ số tài chính. Các doanh nghiệp sử dụng các chỉ số đo hoạt động truyền thống ngắn hạn nhƣ “chi phí sản xuất”, “doanh thu”, “lợi nhuận”, “thị phần”.
Sau khi thực hiện hệ thống quản lý chất lƣợng ISO9000, các doanh nghiệp đã đƣa chỉ số thỏa mãn khách hàng nhƣ là mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Các chỉ số đƣợc lựa chọn dựa trên thỏa mãn khách hàng nhƣ giải quyết các khiếu nại từ khách hàng, thỏa mãn khách hàng đã đƣợc lựa chọn. Các doanh nghiệp đã 6 z từng bƣớc coi chất lƣợng trở thành vấn đề không thể thiếu trong hoạt động của mình. Các doanh nghiệp đƣa ra quan điểm thỏa mãn khách hàng thông qua cung cấp sản phẩm, dịch vụ chất lƣợng tốt hơn tới khách hàng.
Những chỉ số đo đạc nhƣ giao hàng đúng hạn, chỉ số đổi mới sản phẩm trở thành chỉ số phổ biến trong hoạt động sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp. Nghiên cứu từ thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp đã chỉ ra rằng, áp dụng hệ thống quản lý chất lƣợng ISO9000 không chỉ là quá trình đạt đƣợc chứng chỉ mà còn phản ánh quản lý cải tiến quá trình liên tục. Việc áp dụng nguyên tắc quản lý cải tiến quá trình liên tục PDCA (Plan-Do-Check-Action) đã yêu cầu doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam thiết lập, duy trì và cải tiến các hoạt động quản lý nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao từ khách hàng. Hệ thống quản lý chất lƣợng đƣợc củng cố hơn với yêu cầu trách nhiệm lãnh đạo, tiêu chuẩn hóa sản phẩm và quá trình.
Đặc biệt nghiên cứu đã chỉ ra hầu hết các nguyên tắc yêu cầu từ hệ thống quản lý chất lƣợng ISO9000 đã thúc đẩy chất lƣợng quy trình nội bộ trong doanh nghiệp. - Quekeng và Shari Mohd Yusof (2003) Khảo sát thực hành TQM trong ngành công nghiệp điện và điện tử tại Malyasia. Nghiên cứu của Quekeng và shari Mohd Yusof tiến hành năm 2003 tại 248 doanh nghiệp điện – điện tử về thực tế thực hành hệ thống quản lý chất lƣợng đồng bộ tại Malaysia. Trong nghiêp cứu của mình năm 2003, Quekeng đã chỉ ra mức độ hạn chế trong quá trình áp dụng các hệ thống quản lý chất lƣợng tại các doanh nghiệp điện – điện tử.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có 62.5% trong tổng số 248 doanh nghiệp đƣợc khảo sát không có chứng nhận hệ thống quản lý chất lƣợng ISO9000. 55% doanh nghiệp không áp dụng hoặc mới chỉ bắt đầu thực hành hệ thống quản lý chất lƣợng đồng bộ. Nghiên cứu cũng chỉ ra số lƣợng hạn chế trong tiếp cận các hoạt động kiểm soát chất lƣợng tại các doanh nghiệp đƣợc tham gia khảo sát. Nghiên cứu đã chỉ ra 23% doanh nghiệp chƣa hề có các chƣơng trình hay kế hoạch chất lƣợng trong hoạt động của doanh nghiệp.
7 z - Komson Jirapattarasilp (2008) Quản lý chất lƣợng tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành điện và điện tử Thái Lan. Nghiên cứu của Komson Jirapattaraslip tiến hành năm 2008 tại 128 doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành điện - điện tử về thực tế thực hành quản lý hệ thống chất lƣợng tại Thái Lan với 10 hạng mục sau: - Chính sách chất lƣợng: Chính sách và kế hoạch chất lƣợng đƣợc văn bản hóa. - Phƣơng pháp quản lý chất lƣợng: Kế hoạch, quy trình chuẩn và hệ thống thẻ kiểm tra. - Vai trò của lãnh đạo: Liên quan đến thiết lập kế hoạch chất lƣợng, chỉ số chất lƣợng và văn bản hóa quy trình.
- Hoạt động chất lƣợng: Thiết lập cơ chế kiêm soát trong toàn công ty để giải quyết sự cố chất lƣợng. - Công cụ chất lƣợng: Để giải quyết sự cố và quá trình cải tiến (PDCA, các công cụ thống kê). - Quản lý nguồn nhân sự: Nguồn lực từ ban lãnh đạo để quản lý chất lƣợng. - Làm việc nhóm: Thiết lập nhóm làm việc để duy trì hoạt động quản lý chất lƣợng.
- Thu thập và phân tích: Dữ liệu đƣợc thiết lập và văn bản hóa để trợ giúp quá trình đƣa quyết định. - Quản lý quá trình: Các quá trình đƣợc kiểm soát và quản lý hiệu quả theo hệ thống chất lƣợng đã thiết kế. - Quản lý chi phí và sản phẩm: Chi phí đƣợc giảm thƣờng xuyên và kiểm soát. Tiêu chuẩn thiết kế sản phẩm; công hệ mới và kỹ thuật mới đƣợc áp dụng cho cải tiến trong tổ chức.
Jiraphattaraslip đã chỉ ra mức độ áp dụng thực tế quan trọng nhất trong hệ thống quản lý chất lƣợng tại các doanh nghiệp điện – điện tử của Thái Lan bao gồm: Chính sách chất lƣợng, sự tham gia của lãnh đạo, thu thập dữ liệu, phân tích và quản lý hệ thống chất lƣợng. 8 z Hệ thống quản lý chất lƣợng tại doanh nghiệp điện – điện thử Thái Lan đã thực hiện tốt nhất ở quản lý hệ thống tài liệu tại tất cả các quá trình, tài liệu chất lƣợng đƣợc phân phối tới toàn bộ ngƣời lao động. Các chỉ số về chất lƣợng đƣợc thiết lập, quy trình chuẩn tại các quá trình đƣợc hƣớng dẫn cho ngƣời lao động hàng năm. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra mức độ còn hạn chế trong thực hành kiểm soát hệ thống chất lƣợng tại các doanh nghiệp này là quản lý chi phí và sản phẩm.
Cơ sở lý luận về hoạt động quản lý chất lƣợng tại các doanh nghiệp sản xuất 1.