Chương 1 sẽ giới thiệu về đề tài, mục tiêu của nghiên cứu và tóm tắt luận văn. Chương 2 sẽ tập trung mô tả cơ sở lý thuyết, các định nghĩa, các nghiên cứu liên quan về mạng CDNs và các kỹ thuật lấy mẫu. Chương 3 và 4 sẽ mô tả bài toán lấy mẫu tập trung và phân tán trong mạng CDNs và công thức về độ tương 2 đồng giữa tập dữ liệu lấy mẫu và tập dữ liệu ban đầu. Chương 5 sẽ thực nghiệm trên tập dữ liệu thực tế và đánh giá kết quả đạt được trong chương 6.
Từ đó, đưa ra kết luận và hướng phát triển cho đề tài này. 3 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tổng quan về mạng CDNs Cơ sở lý thuyết và việc mô phỏng mạng CDNs đã được mô tả trong các bài báo [3, 4, 5].Cụ thể như sau: 2. Mạng CDNs Mạng CDNs là một mạng lưới bao gồm nhiều máy chủ hỗ trợ lẫn nhau để cung cấp nội dung đến người dùng từ nhiều khu vực, vị trí địa lý khác nhau.
Mạng lưới CDNs này đóng góp cải thiện băng thông tiêu thụ và thời gian người dùng nhận được nội dung yêu cầu. Hiện nay, mạng lưới CDNs được áp dụng khá phổ biến, đặc biệt là các nhà cung cấp dịch vu Video-on-Demand. Vì được đặt ở nhiều vùng địa lý khác nhau, người dùng ở bất kỳ nơi nào cũng có thể nhận được nội dung yêu cầu thông qua máy chủ gần nhất. Điều này giúp tăng trải nghiệm của người dung và giảm thiểu thời gian phản hồi của máy chủ gốc (Orgin Server).
Một mạng lưới CDNs bao gồm các thành phần sau: ● Origin Server: Là máy chủ gốc chứa toàn bộ nội dung. ● Edge Server (Cache server): Là các máy chủ đặt tại các vị trí địa lý khác nhau để phục vụ người dùng. Các máy chủ này có nhiệm vụ chính là lưu trữ một bản sao của nội dung từ máy chủ gốc và phân phối nội dung đó tới người dùng. Điểm mạnh của mạng CDN là cải thiện được trải nghiệm của người dùng cuối.
Điều này rất quan trọng đối với các trang thương mạng điện tử, truyền hình hay trò chơi trực tuyến. Khi người dùng truy cập vào một trang web, yêu cầu của họ sẽ được gửi đến Edge Server có vị trí địa lý gần nhất. Nếu nội dung mà người dùng yêu cầu không có, Edge Server sẽ gửi yêu cầu tới các Edge Server khác trong mạng lưới hoặc về Orgin Server để lấy nội dung mà người dùng yêu cầu. Sau đó lưu trữ một bản sao của nội dung đó lên bộ lưu trữ của chính nó để phục vụ cho các yêu cầu sau đó của người dùng đó hoặc người dùng khác.
Bên cạnh 4 đó, CDN giúp phân phối tải trọng trên nhiều máy chủ. Với một dịch vụ trong mạng Internet, nếu chỉ được dựng trên một máy chủ đơn lẻ, số lượng yêu cầu cho dich vụ đó sẽ bị giới hạn. Nếu vượt qua giới hạn này có thể gây ra áp lực lớn cho máy chủ đó, dẫn đến quá tải ảnh hưởng tới dịch vụ. Nhờ vào việc phân phối tải trọng trên nhiều máy chủ của mạng CDN, dịch vụ đó có thể tiếp nhận nhiều yêu cầu hơn, khả năng chịu tải cao hơn.
Một điểm mạnh khác của mạng CDN là khả năng mở rộng. Với khả năng mở rộng linh hoạt, thêm các nút Edge Server và nâng cấp hệ thống dễ dàng để đáp ứng lưu lượng truy cập ngày càng tăng của hệ thống. Bên cạnh những điểm mạnh trên, mạng CDNs cũng có một vài điểm yếu cần được cải thiện và chú ý. Thứ nhất là về chi phí, để xây dừng và vận hành một mang CDNs đòi hỏi phải có chi phí đầu tư lớn.
Bên cạnh đó việc phân phối và quản lý mạng CDN có thể trở nên rất phức tạp. Đặc biệt đối với các mạng có số lượng Edge Server lớn. Thứ hai là giới hạn về phần cứng, bên cạnh về khả năng xử lý, khả năng lưu trữ trên các Edge Server là một giới hạn của mạng CDNs. Việc lưu trữ nội dung trên các Edge Server sẽ bị giới hạn bởi khả năng lưu trữ vật lý của máy chủ [3].
Thứ ba là khả năng routing trong mạng CDNs, nếu không có bảng phân phối đường đi hợp lý, lưu lượng trong mạng CDNs có thể trở nên rất lớn. Điều này ảnh hưởng trực tiếp để hiệu suất của mạng. Để khắc phục được điểm yếu về giới hạn tài nguyên và việc routing trong mạng CDN, Nakajima và cộng sự [3] đã đưa ra giải thuật Caching dựa theo màu và giải thuật định tuyến dựa theo màu nhầm tối ưu việc lưu trữ trên các Edge Server và đường đi ngắn nhất để lấy được nội dung trong mạng CDNs. Phương pháp này cho phép các Edge Server kết hợp với nhau để tăng tỉ lệ hit cho mạng CDNs thay vì hoạt động riêng ở từng khu vực địa lý.
Cụ thể về giải thuật sẽ được trình bày trong các mục tiếp theo 5 2. Giải thuật Caching dựa theo màu (Color-based Caching Algorithm) Mục đích chính của giải thuật Caching dựa theo màu trong mạng CDNs là kết hợp các Edge Server để tăng dung lượng lưu trữ về mặt vật lý và tổ chức lại chiến lược lưu trữ bản sao một cách hợp lý. Cụ thể, giải thuật này là sự kết hợp giữa Cooperative Caching và Hybrid Caching. Cooperative Caching là phương pháp kết hợp các Cache Server nhằm tăng không gian lưu trữ.
Hybrid Caching cho phép Edge Server chia không gian lưu trữ làm hai phần. Phần thứ nhất sử dụng Least Frequently Used (LFU) để lưu trữ nội dung phổ biến để tăng tỷ lệ truy cập, trong khi phần còn lại sử dụng First In Frist Out để lưu trữ các nội dung gần nhất để theo dõi những thay đổi về mức độ phổ biến của nội dung. Việc kết hợp hai chiến lược này vừa giúp tăng không gian lưu trữ cũng như đáp ứng được sự thay đổi nhanh chóng của nội dung phổ biến. Vấn đề đặt ra là chiến lược Hybrid Caching không hỗ trợ cho Cooperative Caching [6].
Nếu không có sự kết hợp của các Edge Server khác thì có thể dẫn đến việc lưu trữ các nội dung không phổ biến, làm giảm hiệu quả việc sử dụng không gian lưu trữ trên các Edge Server. Tuy nhiên, giải thuật Caching dựa theo màu đã kết hợp thành công hai ưu điểm của hai chiến lược này bằng các thẻ màu. Trong giải thuật này, các thẻ màu sẽ được gán cho các Edge Server và các nội dung. Nội dung nào có cùng màu với Edge Server thì sẽ được lưu trên Edge Server đó.
Với phương pháp này, các Edge Server có cùng màu sẽ tăng không gian lưu trữ các nội dung phổ biến. Ngoài ra để tăng tỷ lệ truy cập của các Edge Server, nội dung càng phổ biến sẽ được gán bởi nhiều thẻ màu. Điều này đồng nghĩa với việc nội dung đó sẽ được lưu trữ trên nhiều Edge Server khác nhau. Ngoài ra, với chiến lược Hybrid Caching, các Edge Server sẽ được chia làm hai không gian lưu trữ riêng biệt.
Không gian đầu tiên sử dụng phương pháp Least Frequently Used (LFU) để lưu trữ các nội dung được đánh màu trùng với Edge Server. Không gian còn lại sử dụng phương pháp Least Recently Used (LRU) cải tiến nhằm lưu trữ 6 bất kỳ nội dung không trùng màu với Edge Server. Phương pháp LRU cải tiến [7] này cho tỉ lệ truy cập tốt hơn phương pháp LRU [8]. Nội dung được đánh màu và lưu trữ trên các Edge Server được tô màu [3] Hình 2.
Chiến lược Hybrid Caching trên Edge Server [3] a) Đánh màu Edge Server Mỗi Edge Server trong mạng lưới được xem như một nút trong đồ thị. Khi này, các Edge Server sẽ được tô màu bằng giải thuật nổi tiếng của Welsh-Powell – giải thuật tô màu độ thị bằng cách sử dụng số lượng màu ít nhất. Tuy nhiên, thuật toán đã được cải tiến để tô chính xác N màu cho tất cả các Edge Server trong mạng. Giả sử bài toán cho 4 màu (đỏ, lục, lam, vàng) để tô cho toàn bộ các Edge Server trong mạng, giải thuật WP cải tiến sẽ phân bố 4 màu có tỉ lệ xắp xỉ nhau.
Chi tiết về thuật toán được mô tả trong bài báo [4]. 7 b) Đánh màu nội dung Tùy vào mức độ phổ biến của nội dung mà nội dung đó có thể có nhiều nhất N màu. Khi này độ phổ biến của nội dung sẽ được thể hiện qua số lượng màu mà nội dung đó được gán. Một nội dung được biểu diễn bằng N-bit vectơ, trong đó 0 có nghĩa là không có màu và 1 có nghĩa là được đánh màu.
Tương tự như đánh màu Edge Server, chúng ta cũng có 4 màu (đỏ, lục, lam, vàng). Như vậy độ phổ biến của nội dung cũng sẽ được chia làm 5 lớp. Lớp thứ nhất với tất cả các bit là 0, lớp thứ 2 gồm 3 bit 0 và 1 bit 1, lớp thứ 3 gồm 2 bit 0 và 2 bit 1, lớp thứ 4 gồm 1 bit 0 và 3 bit 1, và lớp cuối cùng gồm 4 bit 1. Như vậy, việc đánh màu nội dung sẽ phụ thuộc vào độ phổ biến của nội dung đó.
Bài toán đặt ra là làm sao để có thể biết được nội dung đó phổ biến hay không? Yếu tố này phụ thuộc vào yêu cầu của người dùng, người dùng yêu cầu nội dung đó càng nhiều thì nội dung đó càng phổ biến. Trong mỗi Edge Server, khi nhận được bất kỳ yêu cầu từ người dùng, máy chủ đều sẽ lưu lại trong Access Log của mình theo trình tự thời gian. Như vậy, chỉ cần tập hợp các Access Log từ các Cache Server để tính toán độ phổ biến của nội dung thông qua tần suất yêu cầu của nội dung đó và sắp xếp theo thứ tự số lượng yêu cầu từ cao đến thấp. Nội dung phổ biến nhất sẽ có thứ hạng đầu tiên và nội dung được yêu cầu ít nhất sẽ có thứ hạng cuối cùng.
Sau đó nội dung sẽ được phân bố vào các lớp phổ biến tương ứng. Như bảng 1, nội dung từ 1 đến 22 sẽ được đánh 4 màu, nội dung từ 23 – 25 sẽ được đánh 3 màu, nội dung có hạng từ 26 – 47 sẽ được đánh 2 màu, nội dung có hạng từ 48 – 305 sẽ được đánh 1 màu và nội dung có hạng 306 trở về sau sẽ không được đánh màu. Một tập số như vậy sẽ được gọi là Separator Ranks, nhằm phân loại mức độ phổ biến của nội dung trong giải thuật tô màu.