Chương 1 tác giả đã trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu nhằm xem xét các yếu tố tác động đến tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng TMCP Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2018. Từ đó, có thể đề ra một số giải pháp ứng dụng nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, cải thiện TSSL của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam. Và để có thể hiểu rõ hơn về các khái niệm như tỷ suất sinh lợi, các biến trong mô hình và các nghiên cứu về vấn đề này trước đây thì chương 2 sẽ làm rõ những vấn đề này. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Chương 2 trình bày những lý thuyết và các công trình nghiên cứu trước đây về các yếu tố tác động đến tỷ suất sinh lợi của các NHTM, làm cơ sở khoa học cho công trình nghiên cứu của luận văn.
Tỷ suất sinh lợi của ngân hàng thương mại Khả năng sinh lợi là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính và việc đánh giá khả năng sinh lợi phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu. Khái niệm khả năng sinh lợi được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế, là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính tức là vốn kinh tế mà doanh nghiệp nắm giữ để tạo ra các khoản lợi nhuận cho doanh nghiệp. Là một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ, khả năng sinh lợi là một trong các chỉ tiêu đo lường quan trọng đánh giá kết quả tài chính của các NHTM, được xem xét trên cơ sở kết hợp kết quả kinh doanh và nguồn lực sử dụng. Khả năng sinh lời là nền tảng quan trọng giúp các ngân hàng đổi mới, đa dạng hóa sản phẩm, từ đó kinh doanh hiệu quả.
Theo thông lệ quốc tế người ta thường đo lường khả năng sinh lợi của NHTM bằng các chỉ tiêu định lượng như giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận, cơ cấu của lợi nhuận và đặc biệt là các chỉ tiêu thể hiện tỷ suất sinh lợi như tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM)… Nhóm chỉ số này càng cao cho thấy ngân hàng kinh doanh càng có hiệu quả. Do đó, tỷ suất sinh lợi là một trong các yếu tố phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Có nhiều định nghĩa và khái niệm về tỷ suất sinh lợi được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau của kinh tế học về những khoản tiền thu được so với vốn sử dụng để sinh ra lãi hay số chi phí đã tiêu hao để sinh ra lãi. Các chỉ tiêu đo lường tỷ suất sinh lợi của ngân hàng thương mại 2.
Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) 9 ROA là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản – yếu tố đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận sau khi đã loại bỏ tác động của thuế; do tài sản không phụ thuộc vào cơ cấu nguồn vốn nên suất sinh lời trên tài sản cũng độc lập với cơ cấu nguồn vốn hình thành nên tài sản. Chỉ số này đánh giá hiệu quả công tác quản lý của ngân hàng, cho thấy khả năng trong quá trình chuyển tài sản thành thu nhập ròng. Mặt khác, tài sản được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu, cả hai nguồn vốn này đều được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của ngân hàng và ROA thể hiện hiệu quả của việc chuyển hóa tài sản thành lợi nhuận thu được. ROA càng cao cho thấy sự hiệu quả trong quá trình hoạt động và khả năng quản lý của ban lãnh đạo.
Lợi nhuận sau thuế x 100 Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản = Tổng tài sản bình quân 2. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu = x 100 Vốn chủ sở hữu bình quân ROE đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng. Nó thể hiện thu nhập mà cổ đông nhận được từ việc đầu tư vốn vào ngân hàng. Nói cách khác, ROE đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng.
Tỷ lệ ROE càng cao chứng tỏ sự hiệu quả trong việc sử dụng đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là ngân hàng đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình. Do đó hệ số ROE càng cao thì cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn. Các chỉ tiêu đo lường khác Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (Net Interest Margin - NIM) được xác định bằng tổng doanh thu từ lãi trừ tổng chi phí trả lãi (thu nhập lãi thuần) trên tổng tài sản có sinh lời bình quân. NIM đo lường tính hiệu quả và khả năng sinh lời.
Tỷ lệ này được các ngân hàng theo dõi thường xuyền vì nó giúp cho ngân hàng dự báo trước 10 khả năng sinh lời của ngân hàng thông qua việc kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và việc tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí thấp nhất. Thu nhập lãi – Chi phí lãi NIM = x 100 Tài sản có sinh lời Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên được sử dụng làm biến phụ thuộc để phân tích các yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi của ngân hàng trong các nghiên cứu của Munyam Bonera (2013), Ong Tze San và Teh Boon Heng (2012) ….Tuy nhiên, NIM cũng tồn tại nhược điểm là không xét đến các thu nhập khác ngoài lãi và chi phí hoạt động nên không phản ánh được toàn diện khả năng sinh lợi của ngân hàng. Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NNIM) Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi, chủ yếu là nguồn thu phí từ các dịch vụ với các chi phí ngoài lãi mà ngân hàng phải chịu (gồm tiền lương, chi phí sửa chữa, bảo hành thiết bị, và chi phí tổn thất tín dụng). Do đó tỷ lệ NNIM càng cao thì khả năng sinh lợi của ngân hàng càng cao.
Thu nhập ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi NNIM = x 100 Tài sản có sinh lời Tỷ lệ thu nhập trên vốn sử dụng (ROCE) Tỷ lệ thu nhập trên vốn sử dụng (Return on Capital Employed – ROCE) là chỉ số thể hiện khả năng thu lợi nhuận của ngân hàng dựa trên số vốn đã sử dụng. Trong đó vốn sử dụng được tính bằng chênh lệch giữa tổng tài sản và nợ ngắn hạn. ROCE càng cao thì khả năng sinh lợi của ngân hàng càng cao (Gul, Irshad và Zaman 2011)). Tương tự các chỉ số tài chính khác, mỗi chỉ số đo lường tỷ suất sinh lợi được sử dụng trong các trường hợp khác nhau và tùy thuộc vào đối tượng xem xét đến các chỉ số đó.
Để xác định các yếu tố tác động đến TSSL của các NHTM, đa số các nghiên cứu trong và ngoài nước thường được đo lường thông qua hai chỉ tiêu là tỷ suất lợi nhuận ròng trên tổng tài sản bình quân (ROA) và tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu bình quân (ROE). Dù hai chỉ số này mang ý nghĩa khác nhau nhưng 11 cả hai đều chỉ ra hiệu quả hoạt động để tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng (theo Davydenko, 2011). Do đó, trong bài luận văn này tác giả sử dụng hai chỉ số ROA và ROE để làm biến phụ thuộc đại diện cho tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng thương mại 2.
Các yếu tố nội tại 2. Quy mô ngân hàng Quy mô ngân hàng được xem là yếu tố nội tại quyết định tỷ suất sinh lợi của ngân hàng thông qua tổng tài sản hoặc tổng nguồn vốn. Trên thực tế, thông qua lợi thế hiệu quả kinh tế nhờ quy mô, các ngân hàng có thể gia tăng lợi nhuận. Trong hầu hết các bài nghiên cứu, để tránh sự chênh lệch quá lớn trong quy mô tổng tài sản của các ngân hàng lớn so với các ngân hàng nhỏ, tổng tài sản được tính bằng logarit theo cơ số 10 và là biến đại diện quy mô ngân hàng tham gia vào mô hình nghiên cứu nhằm tránh hiện tượng phương sai thay đổi.
Một số kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô ngân hàng và TSSL như nghiên cứu thực nghiệm của John Goddard và các cộng sự (2004), Pasiouras và Kosmidou (2007) hay Anper và Anbar (2011). Ngân hàng có quy mô vốn lớn sẽ dễ dàng đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng, có nguồn lực để đổi mới công nghệ, mở rộng mạng lưới, từ đó giúp gia tăng lợi nhuận. Ngược lại, các NHTM có quy mô vốn thấp, năng lực tài chính yếu sẽ khó có khả năng mở rộng, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, dẫn đến lợi nhuận thấp, tăng trưởng chậm. Tuy nhiên, cũng tồn tại luồng ý kiến trái chiều trong nghiên cứu của Eichengreen và Gibson (2001), Athanasoglou và các cộng sự (2005) chỉ ra rằng sự gia tăng quy mô vốn chỉ tác động cùng chiều lên TSSL đến một mức độ nhất định nào đó.
Khi quy mô ngân hàng quá lớn sẽ làm tăng các chi phí quản lý cũng như các chi phí hoạt động, nguồn nhân lực không theo kịp sự phát triển của quy mô khiến cho rủi ro của ngân hàng tăng lên, lúc này tính phi kinh tế theo quy mô xuất hiện dẫn đến TSSL của ngân hàng bị sụt giảm. Quy mô vốn chủ sở hữu 12 Quy mô vốn chủ sở hữu (VCSH) hay vốn tự có của ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng, đó là nguồn vốn riêng của ngân hàng do chủ sở hữu đóng góp ban đầu và được bổ sung trong quá trình hoạt động kinh doanh. Tác động của quy mô VCSH đến TSSL được lượng hóa thông qua tỷ số VCSH trên tổng tài sản, hay còn gọi là cấu trúc vốn của ngân hàng. Molyneux và Thornton (1992) trong nghiên cứu của mình về khả năng sinh lợi của các ngân hàng tại 18 nước Châu Âu trong giai đoạn 1986 – 1989 đã tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa cấu trúc vốn và TSSL của ngân hàng.