CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO THẺ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Cơ sở lý luận về thẻ tín dụng tại Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm thẻ tín dụng Khái niệm thẻ thanh toán đã xuất hiện trong văn bản pháp luật Việt Nam từ năm 1994 mặc dù chưa được định nghĩa chính thức. Tại Điều 24 của Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt, được ban hành kèm theo Quyết định số 22/QĐ-NH1 ngày 21-02-1994 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, thẻ thanh toán mới chỉ được giải thích là “do Ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng hoá, dịch vụ, các khoản thanh toán khác và rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý thanh toán hay các quầy trả tiền mặt tự động”. Cũng tại Điều 24 Thể lệ này, thẻ thanh toán được phân loại gồm thẻ ghi nợ, thẻ ký quỹ thanh toán và thẻ tín dụng. Thẻ tín dụng, mặc dù chưa được định nghĩa trong văn bản này, nhưng cũng đã được mô tả như sau: “Thẻ tín dụng áp dụng đối với khách hàng có đủ điều kiện được Ngân hàng đồng ý cho vay tiền.
Khách hàng chỉ được thanh toán số tiền trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được Ngân hàng chấp thuận bằng văn bản”. Mới đây nhất, vào năm 2007 thì khái niệm về các loại thẻ đã được sửa đổi lại trong Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng, được ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/05/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Theo đó, không sử dụng khái niệm thẻ thanh toán mà sử dụng khái niệm thẻ ngân hàng và thẻ ngân hàng được hiểu là “phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận”. Thẻ ngân hàng sẽ bao gồm thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng và thẻ trả trước.
Khoản 5 Điều 2 Quy chế này có định nghĩa “Thẻ tín dụng (credit card): Là thẻ cho phép Chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ”. Trong đó, khái niệm “giao dịch thẻ” được hiểu là “việc sử dụng thẻ để gửi, 8 nạp, rút tiền mặt, thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, sử dụng các dịch vụ khác do tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ cung ứng”. Các quan điểm nêu trên đều thể hiện được những bản chất cơ bản của thẻ tín dụng. Tuy nhiên theo tác giả, thẻ tín dụng cần được định nghĩa sát với bản chất của thẻ hơn nữa.
Vì vậy, tác giả muốn đưa ra định nghĩa sau về thẻ tín dụng: “Thẻ tín dụng là một loại công cụ tín dụng phổ biến. Nó được phát hành thông qua việc cung cấp thẻ tín dụng (thường là các ngân hàng thương mại) theo đánh giá tín dụng và tình hình tài chính của chủ thẻ tín dụng. Sử dụng thẻ tín dụng, chủ sở hữu không cần phải trả tiền mặt khi họ tiêu dùng, và phải thanh toán hóa đơn vào ngày ngân hàng gửi bản sao kê khai hóa đơn.2 Đặc điểm và phân loại thẻ tín dụng Đặc điểm thẻ tín dụng - Tính tiện ích: thể hiện ở sự đơn giản, gọn nhẹ, mua hàng trước trả tiền sau của thẻ tín dụng. Khách hàng chỉ cần mang theo thẻ tín dụng để thanh toán thay vì tiền mặt để thanh toán hàng hóa ở bất cứ đơn vị chấp nhận thẻ nào trên thế giới.
Ngoài ra khách hàng có thể sử dụng thẻ tín dụng để thanh toán hàng hóa qua mạng internet mặc dù người bán và người mua cách xa nhau nhau về mặt địa lý. Tính tiện ích của thẻ tín dụng còn thể hiện ở khả năng tự động chuyển đổi ngoại tệ một cách tức thì mà không gặp trở ngại nào thay vì khách hàng tự đến ngân hàng để làm thủ tục chuyển ngoại tệ ra nước ngoài sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí cơ hội từ thời gian, tiền bạc, tính nhanh chóng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng trên toàn thế giới. - Tính an toàn và nhanh chóng: thông qua hệ thống chuyển tiền điện tử và hệ thống bù trừ liên ngân hàng việc sử dụng thẻ tín dụng sẽ an toàn và nhanh chóng hơn nhiều so với các hình thức thanh toán khác như tiền mặt, séc…trong trường hợp mất thẻ chủ thẻ chỉ cần thông báo đến ngân hàng phát hành để khóa thẻ và cấp lại thẻ khác. - Tính linh hoạt: hiện nay ngân hàng cung cấp các loại thẻ tín dụng tương đối 9 đa dạng với nhiều hạn mức tín dụng khác nhau phù hợp với nhiều đối tượng trong xã hội.
- Tính tín dụng: xét về bản chất kinh tế, thẻ tín dụng là sự cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành sẽ thanh toán cho những khoản tiền mà chủ thẻ đã chi tiêu hay nói cách khác đây là một hình thức cho vay tiêu dùng của ngân hàng. Phân loại thẻ tín dụng - Phân loại theo phạm vi sử dụng thẻ Thẻ tín dụng nội địa: là loại thẻ có phạm vi sử dụng và thanh toán trong một Quốc gia. Ngân hàng phát hành và cơ sở chấp nhận thẻ ở cùng một Quốc gia. Đồng tiền của thẻ tín dụng nội địa là tiền nội tệ của Quốc gia đó.
Thẻ tín dụng quốc tế: là các loại thẻ do ngân hàng, tổ chức tài chính trong nước và quốc tế (là thành viên của tổ chức thẻ quốc tế) phát hành. Thẻ tín dụng quốc tế có thể thanh toán ở tất cả các đơn vị chấp nhận thẻ trên thế giới và đồng tiền thanh toán sẽ được tự động quy đổi ra ngoại tệ trong trường hợp chủ thẻ thanh toánhàng hóa dịch vụ ở ngoài nước. - Phân loại theo đối tượng sử dụng. Thẻ cá nhân: là thẻ được phát hành cho các cá nhân có nhu cầu và đáp ứng đủ điều kiện phát hành thẻ.
Chủ thẻ có trách nhiệm thanh toán các khoản chi tiêu thẻ tín dụng bằng nguồn tiền của bản thân chủ thẻ. Thẻ công ty: là loại thẻ tín dụng dùng cho công ty thanh toán trong hoạt động kinh doanh của mình. Công ty đứng tên ký hợp đồng sử dụng thẻ và ủy quyền cho người đứng tên trong hợp đồng yêu cầu phát hành thẻ tín dụng sử dụng, đồng thời mọi thanh toán liên quan đến thẻ đều do công ty thanh toán với ngân hàng phát hành. - Phân loại theo công nghệ sản xuất Thẻ dập nổi: là loại thẻ sơ khai ban đầu, các thông tin cơ bản được khắc nổi trên thẻ, loại này nhanh chóng bị thay thế bởi tính bảo mật kém, dễ bị làm giả, hiện 10 nay loại thẻ này hầu như không còn sử dụng do các hạn chế của nó.
Thẻ từ: là loại thẻ mà các thông tin của chủ thẻ vừa được dập nổi ở mặt trước của thẻ, vừa được mã hóa trong dải băng từ ở mặt sau của thẻ. Nhược điểm của thẻ từ là số lượng các thông tin được mã hóa không nhiều và mang tính cố định nên thông tin rất dễ bị đánh cắp. Thẻ thông minh: đây là thế hệ mới nhất của thẻ, có tính bảo mật và an toàn rất cao, dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, gắn vào thẻ một chip điện tử có cấu tạo như một máy tính nhỏ. Thông thường thẻ thông minh được gắn chip điện tử để thay thế cho dải băng từ ở mặt sau của thẻ hoặc có cả chip điện tử và băng từ trên cùng một thẻ.3 Một số vấn đề lý luận liên quan đến rủi ro thẻ tín dụng - Rủi ro là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn, chỉ có những tình trạng không chắc chắn có thể ước đoán được xác suất xảy ra mới được xem là rủi ro (Nguyễn Minh Kiều, 2007).
Trong thuật ngữ tài chính, rủi ro là khả năng mất mát tài chính của ngân hàng. Rủi ro gắn liền với bất cứ hoạt động tài chính nào và cũng như bản thân các giao dịch tài chính đó cần được quản lý một cách đúng mực. Các ngân hàng có thể phái đối mặt với các tốn thất lớn nếu không quản lý chặt chẽ các rủi ro. - Rủi ro thẻ tín dụng là một loại rủi ro khách hàng gặp phải khi không có khả năng thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ cho các khoản chi tiêu qua thẻ tín dụng dành cho ngân hàng.
Vì vậy mỗi ngân hàng cần phải quan tâm đặc biệt đến hoạt động quản lý rủi ro nói chung và hoạt động quản lý rủi ro kinh doanh thẻ tín dụng nói riêng. Nguồn rủi ro thẻ tín dụng - Rủi ro từ chủ thẻ tín dụng Rủi ro từ chủ thẻ tín dụng có tác hại rất lớn gây ra thiệt hại cho ngân hàng. Rủi ro này thường xảy ra khi: + Chủ thẻ tín dụng không đủ khả năng thanh toán hoặc thanh toán không đầy 11 đủ các khoản chi tiêu bằng thẻ tín dụng. Một khi chủ thẻ tín dụng đến hạn mà không thanh toán khoản nợ trong chu kỳ tín dụng, khoản nợ này sẽ được ngân hàng ghi nhận là nợ quả hạn và được tính chung vào khoản nợ quả hạn của ngân hàng.
+ Hoặc xuất phát từ các hành vi làm giả hồ sơ để mở thẻ tín dụng, sử dụng thẻ đã báo mất hoặc bị đánh cắp, sử dụng thẻ đã báo không nhận được thẻ, không công nhận giao dịch đã thực hiện. - Rủi ro từ đơn vị chấp nhận thẻ + Các hành vi làm giả hồ sơ để ký hợp đồng làm đơn vị chấp nhận thẻ với ngân hàng + Sửa số tiền giao dịch lớn hơn so với giao dịch thực tế + Đánh cắp thông tin của chủ thẻ để bán - Rủi ro từ hành vi gian lận từ bên ngoài Khi công nghệ thông tin ngày càng phát triển thì các các rủi ro xuất phát từ các hành vi gian lận từ bên ngoài của tội phạm công nghệ ngày càng gia tăng đây là một trở ngại rất lớn mà các NHTM khó có thể giải quyết triệt để. Cụ thể các hành vi gian lận từ lận bên ngoài như Làm thẻ giả, sửa thông tin chủ thẻ, sử dụng thiết bị quét cắp thông tin thẻ, đánh cắp thông tin từ các giao dịch không xuất trình thẻ, sử dụng thông tin của chủ thẻ để thực hiện giao dịch. - Rủi ro từ ngân hàng + Chính sách kinh doanh thẻ tín dụng không hợp lý, chỉ chú trọng mở rộng tổng dư nợ thẻ tín dụng để tăng doanh thu từ lãi vay mà ít quan tâm đến việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ đem lại nguồn thu không nhỏ về phí sử dụng cho ngân hàng.