Chương 1 đã nêu lên được những nguyên nhân tác giả chọn đề tài, ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu. Bên cạnh đó, xác định được đối tượng, phạm vi nghiên cứu, tiếp tục tác giả chỉ ra mục tiêu nghiên cứu và giải quyết vấn đề đó thông qua việc đặt câu hỏi. Các chương tiếp theo sẽ trả lời lần lượt cho những câu hỏi này. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN.1 Tổng quan về dịch vụ ngân hàng bán lẻ 2.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ Dịch vụ và DVNHBL là gì? Theo Kotler, P.
(2006): “dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này có thể cung cấp cho chủ thể kia. Trong đó đối tượng cung cấp nhất định phải mang tính vô hình và không dẫn đến bất kỳ quyền sở hữu một vật nào cả. Còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không cần gắn liền với một sản phẩm vật chất nào” Như vậy, chúng ta có thể hiểu “Dịch vụ là một hoạt động mang tính sáng tạo của con người trong lĩnh vực kinh tế, nó tạo ra các tiện ích cho khách hàng tại một thời điểm ở một không gian cụ thể; các nhân tố cấu thành dịch vụ là những nhân tố vô hình, vì thế cũng không có quyền sở hữu nào được chuyển giao trong xã hội”. Theo từ điển ngân hàng BIDV, DVNHBL là hoạt động cung cấp chủ yếu cho khách hàng cá nhân sản phẩm với các dịch vụ như tiền gửi tiết kiệm, chuyển tiền trong và ngoài nước, các loại thẻ, ngân hàng điện tử, cho vay ô tô, tiêu dùng, sản xuất kinh doanh… Trong đề tài nghiên cứu này, DVNHBL được hiểu là: “Các sản phẩm và dịch vụ mà ngân hàng cung ứng đến từng cá nhân, hộ kinh doanh thông qua mạng lưới các chi nhánh và phòng giao dịch hoặc có thể tiếp cận thông qua các phương tiện thông tin, điện tử, viễn thông”.2 Đặc điểm và vai trò của DVNHBL Đặc điểm Đối tượng khách hàng của DVNHBL có số lượng vô cùng lớn và đa dạng về tuổi tác, giới tính, trình độ, thu nhập, nhu cầu tiếp cận các sản phẩm dịch vụ khác nhau.
Kênh phân phối cho khách hàng trên phạm vi rộng và đa dạng như thông qua các chi nhánh, PGD. Như vậy, về mặt khoảng cách địa lý khách hàng được tiếp cận dễ dàng, rút ngắn thời gian và chi phí đi lại. a â DVNHBL chủ yếu dựa trên sự biến đổi mạnh mẽ trên nền tảng công nghệ thông tin, góp phần nâng cao việc quản trị ngân hàng hiệu quả, khai thác dữ liệu một cách nhất quán, nhanh chóng, chính xác. 6 Các sản phẩm bao gồm tài chính và phi tài chính đa dạng như tín dụng, tiền gửi, thẻ, ngân hàng số…, các sản phẩm dịch vụ này đang từng bước kết hợp với sự phát triển bùng nổ của công nghệ hiện đại ngày nay thông qua ứng dụng ngân hàng số.
Với thao tác đơn giản và từ ngữ dễ hiểu trên ứng dụng này đã giúp khách hàng dễ dàng có được các sản phẩm mà họ mong muốn. Đây chính là yếu tố phá vỡ tính năng truyền thống cứng nhắc, đáp ứng nhanh chóng nhu cầu ngày càng chọn lọc của khách hàng, tạo thêm sự phong phú, mới mẻ của sản phẩm. DVNHBL với số lượng sản phẩm đa dạng, sự tăng trưởng trong dân số sẽ làm tăng nhu cầu sử dụng nên có thể thấy được tiềm năng lợi nhuận cũng sẽ gia tăng theo số lượng. aVai trò đối với ngân hàng gg Với nguồn thu ngày càng gia tăng và ổn định cùng với sự khuếch tán rủi ro mà v a DVNHBL mang lại đã góp phần đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, tạo nên sự vững chắc cho các hoạt động của ngân hàng, tài chính quốc gia ngày càng vững mạnh.
DVNHBL là cầu nối vững chắc giữa các NHTM với khách hàng, góp phần giữ được lượng khách ổn định, giúp vượt qua khó khăn trong bối cảnh đại dịch covid còn diễn biến phức tạp. Vai trò đối với khách hàng DVNHBL mang đến sự đa dạng sản phẩm dịch vụ, thuận tiện, dễ dàng thao tác, tiết kiệm và an toàn trong khi thực hiện các giao dịch tài chính của khách hàng. Cùng a với sự phát triển vượt bậc của công nghệ số đã giảm thiểu rất nhiều chi phí về nguồn s a a lực, về vận hành mà nhờ đó chi phí của khách hàng sẽ giảm theo. Các cá nhân, hộ kinh doanh có thể dễ dàng tiếp cận được vốn từ ngân hàng và các sản phẩm khác thông qua sự phát triển mạnh mẽ của DVNHBL.
Sự hỗ trợ này góp phần d d sự thiếu hụt vốn tạm thời cho hộ kinh doanh, góp phần gia tăng năng suất, an sinh xã a hội và phát triển nền kinh tế.3 Giới thiệu các sản phẩm DVNHBL Hoạt động huy động vốn: Các NHTM huy động nguồn vốn nhàn rỗi đến từ khách hàng cá nhân, hộ gia đình và các DNVVN dưới các hình thức chủ yếu như: tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, các giấy tờ có giá…. từ đó, các ngân hàng sẽ có được một nguồn vốn dồi dào và đầy tiềm năng. Để đáp ứng với sự thay đổi về nhu cầu sử dụng 7 của khách hàng, các NHTM đã đa dạng hoá các sản phẩm kết hợp với ứng dụng công nghệ số, sản phẩm có hình thức rút vốn linh hoạt. Hoạt động tín dụng: cung cấp vốn cho các cá nhân, hộ kinh doanh và DNVVN với các khoản thời gian khác nhau như ngắn, trung và dài hạn, gồm: vay thấu chi, cầm cố giấy tờ có giá, cho vay mục đích tiêu dùng, cho vay kinh doanh sản xuất,…Đây là hoạt động góp phần gia tăng doanh thu, tạo lợi nhuận cho các NHTM.
Dịch vụ thẻ: Rất quan trọng trong việc huy động vốn, nâng cao nhận diện thương hiệu, tăng doanh thu phí dịch vụ. Sản phẩm thẻ đóng góp cho việc hạn chế sử dụng tiền a mặt cho khách hàng, thanh toán hàng hoá dịch vụ dễ dàng. Dịch vụ thanh toán: cùng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ số, dịch vụ thanh toán ngày càng trở nên tiện lợi, chính xác, ngay cả trong mạng lưới nội bộ hệ thống hay khác hệ thống ngân hàng, trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, các dịch vụ thanh toán học phí, điện, nước, viễn thông, dịch vụ công, giao thông…đã được đẩy mạnh thanh toán và tạo được nguồn thu đáng kể cho các NHTM.
n c Dịch vụ ngân hàng điện tử: ngày nay phát triển bùng nổ bởi các tiện ích mà nó mang lại cho cả ngân hàng và khách hàng như Ibank, Smartbanking,…Với các thao tác đơn giản, khách hàng sẽ trải nghiệm được các tiện ích mà sản phẩm dịch vụ tài chính và phi tài chính mang lại mà không cần đến trụ sở ngân hàng. Đây chính là xu hướng cốt lõi trong hoạt động bán lẻ hiện đại ngày nay mà các NHTM đang hướng tới và quyết định h e sự thành công DVNHBL trong tương lai. Ngân hàng điện tử được coi là sản phẩm của NHBL bởi vì nó cho phép từng cá nhân riêng lẻ có thể tiếp cận trực tiếp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng từ dịch vụ thanh toán như tiền điện, nước, học phí, viễn thông, hay các giao dịch mua sắm điện tử; cung cấp đầy đủ các nhu cầu về tiền gửi tiết kiệm, nhu cầu vay vốn, thẻ ATM,… tất cả đều thực hiện một cách nhanh chóng chỉ với một vài thao tác nhanh gọn.2 Chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ 2.1 Khái niệm chất lượng dịch vụ Chất lượng là khái niệm đặc trưng cho khả năng thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Vì vậy, sản phẩm hay dịch vụ nào không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì bị coi là kém chất lượng cho dù trình độ công nghệ sản xuất ra có hiện đại đến đâu đi nữa.
8 Đánh giá chất lượng cao hay thấp phải đứng trên quan điểm người tiêu dùng. Cùng một mục đích sử dụng như nhau, sản phẩm nào thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng cao hơn thì có chất lượng cao hơn. CLDV là một sự đo lường mức độ dịch vụ được đưa đến khách hàng tương xứng với mong đợi của khách hàng tốt đến đâu. Việc tạo ra một dịch vụ chất lượng nghĩa là đáp ứng mong đợi của khách hàng một cách đồng nhất (Lưu Văn Nghiêm, 2008, tr.
CLDV có nhiều định nghĩa khác nhau do phụ thuộc vào nhiều khía cạnh khác nhau như ngành nghề, văn hoá. đây cũng là cơ sở cho việc nghiên cứu và thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ của các doanh nghiệp và cũng thể hiện được sự khác biệt trong cạnh tranh của doanh nghiệp với các đối thủ còn lại. Bên cạnh đó, chất lượng dịch vụ thường được cảm nhận mang tính chủ quan của khách hàng và khả năng nhận biết của họ.2 Đặc điểm CLDV Tính vượt trội: nhà cung cấp dịch vụ muốn có thế mạnh cạnh tranh trên thị trường a g thì dịch vụ của họ phải có tính vượt trội hơn so với những dịch vụ khác thông qua đánh giá bởi sự cảm nhận từ khác hàng sử dụng dịch vụ đó. Tính cung ứng: để biết được CLDV có tốt hay là không được quyết định thông qua cách phục vụ của nhà cung cấp bằng việc chuyển giao dịch vụ đến khách hàng.
Do đó, để nâng cao CLDV, nhà cung cấp dịch vụ cần phải chú ý cải thiện tính cung ứng, để hoạt động cung cấp dịch vụ tới khách hàng là điểm mạnh và chiếm ưu thế lâu dài. Tính thỏa mãn: là nhu cầu của khách hàng được đáp ứng. Căn cứ để cải thiện a s CLDV thông qua sự thoả mãn của khách hàng sau khi sử dụng sản phẩm dịch vụ. Nêú đáp ứng mong đợi của khách hàng, tức là đã thành công trong việc nâng cao CLDV, ngược lại là chưa đáp ứng được mong đợi của khách hàng, cần phải cải thiện.
Hiện nay, nhu cầu của khách hàng ngày càng cao, môi trường kinh doanh hiện đại và cạnh tranh, các nhà cung cấp dịch vụ càng phải luôn hướng trọng tâm đến nhu cầu của khách hàng và cung cấp dịch vụ đáp ứng các nhu cầu đó.3 Khái niệm CLDV ngân hàng bán lẻ Từ khái niệm và đặc điểm của CLDV đã tìm hiểu ở các mục trên, tác giả có nhận định rằng “CLDV NHBL là sự cảm nhận khoảng cách của khách hàng giữa sự kỳ vọng v về DVNHBL sẽ được cung cấp và cảm nhận của họ sau khi đã sử dụng qua nó. Các cảm 9 nhận của khách hàng có thể là do chính các sản phẩm dịch vụ đó và cách thức mà ngân a hàng cung cấp các DVNHBL đến khách hàng”.3 Các mô hình nghiên cứu về CLDV 2.