Chương 1 của luận văn đã trình bày vấn đề nghiên cứu, tổng quan nghiên cứu trước có liên quan, từ sự cần thiết của nghiên cứu đã xây dựng các mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu cũng như bố cục của luận văn. 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Hộ gia đình Hộ gia đình là một tế bào của xã hội, là một trong những đơn vị ảnh hưởng đến các quyết định sản xuất và đầu tư của nền kinh tế. Blow (2004) định nghĩa hộ gia đình có thể chỉ bao gồm một thành viên hoặc gồm nhiều thành viên sống cùng một nhà, sinh hoạt và chia sẻ các công việc nhà.
Các thành viên trong hộ không nhất thiết phải có quan hệ huyết thống. Trong hộ gia đình sẽ có một hoặc nhiều đơn vị thành viên nhỏ, với mỗi đơn vị thành viên nhỏ có thể chỉ gồm một người lớn duy nhất, hoặc một cặp vợ chồng có hoặc không có trẻ em phụ thuộc. Theo Quyết định số 1673/QĐ-TCTK của Tổng Cục Thống kê ngày 14 tháng 9 năm 2017 về việc tiến hành KSMS dân cư năm 2018 thì khái niệm hộ dân cư: Hộ là một hoặc một nhóm người ăn chung, ở chung trong một chỗ từ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua và có chung quỹ thu chi. Thành viên hộ: Những người được coi là thành viên của hộ phải thỏa mãn đồng thời hai điều kiện sau: (1) Cùng ăn, ở chung trong hộ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua; (2) Có chung quỹ thu chi, nghĩa là mọi khoản thu nhập của thành viên đều được đóng góp vào ngân sách chung của hộ và mọi khoản chi tiêu của họ đều lấy từ ngân sách đó.
Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung. Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai. 9 Phạm Anh Ngọc (2008) cho rằng: hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết thống. Tuy vậy, cũng có cá biệt trường hợp thành viên của hộ không phải cùng chung huyết thống (con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên trong hộ công nhận cùng chung hoạt động kinh tế lâu dài…).
Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế (chủ thể kinh tế), có nguồn lao động và phân công lao động chung, có vốn và chương trình, kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được phân phối lợi ích theo thỏa thuận có tính chất gia đình. Hộ không phải là một thành phần kinh tế thống nhất, mà hộ có thể là một thành phần kinh tế cá thể, tư nhân, tập thể, nhà nước… Tóm lại, hộ là tập hợp những người có cùng chung mối quan hệ với nhau, sống trong cùng một gia đình và được pháp luật công nhận, cùng sinh sống và phát triển kinh tế theo sự phân công đã được thiết lập từ trước. Chủ hộ Theo Quyết định số 1637/QĐ-TCTK của Tổng Cục Thống kê ngày 14 tháng 9 năm 2017 về việc tiến hành KSMS dân cư năm 2018 thì khái niệm chủ hộ: Chủ hộ là người có vai trò điều hành, quản lý gia đình, giữ vị trí chủ yếu, quyết định những công việc của hộ. Thông thường (nhưng không nhất thiết) chủ hộ là người có thu nhập cao nhất trong hộ, nắm được tất cả các hoạt động kinh tế và nghề nghiệp của các thành viên khác của hộ.
Đa số chủ hộ theo khái niệm trên trùng với chủ hộ theo đăng ký hộ khẩu nhưng có trường hợp chủ hộ trong cuộc khảo sát này khác với chủ hộ theo đăng ký hộ khẩu. Theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam (2005) thì chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ. Như vậy, xét tổng thể thì chủ hộ là những cá nhân đủ điều kiện cung cấp các thông tin cần thiết về các đặc điểm nhân khẩu học, thu nhập và các hoạt động của 10 hộ gia đình.
Vì vậy, các thông tin về chủ hộ có thể được sử dụng đại diện trong các nghiên cứu về hộ gia đình nói chung. Giáo dục Theo Shultz (1964), giáo dục cần được hiểu theo 3 khía cạnh: (i) nếu xét ý nghĩa tiêu dùng ở hiện tại, thì giáo dục là thứ hàng hóa tạo sự phấn khích cho người tiêu dùng (từ việc biết thêm kiến thức); (ii) nếu xét ý nghĩa tiêu dùng ở tương lai, thì giáo dục giúp người học có khả năng tiêu thụ thêm nhiều hàng hóa khác trong đời sống; (iii) giáo dục mang ý nghĩa đầu tư, nghĩa là vốn con người hình thành từ quá trình giáo dục giống như vốn vật lực, được sử dụng cho đến khi năng suất biên của nó bằng với chi phí biên sử dụng nó. Gillis và Thomsen (1996), định nghĩa giáo dục chính là các hình thức học hỏi của con người, về cơ bản có ba dạng: (i) hình thức giáo dục chính quy liên quan đến quá trình học tập tại các trường học, viện; (ii) hình thức giáo dục không chính quy liên quan đến các chương trình diễn ra bên ngoài nhà trường với khoảng thời gian ngắn; và (iii) cuối cùng là hình thức học diễn ra ở bất cứ nơi đâu: ở nhà, công sở và ở địa phương. Ở một cách tiếp cận khác, giáo dục được hiểu là hoạt động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống nhằm tạo ra sức mạnh có tính đa dạng về thể chất và tinh thần của con người, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Nó còn là con đường hình thành nên những tri thức khoa học về thế giới quan, lý tưởng, đạo đức, thái độ, thẩm mỹ, cơ sở để hình thành nhân sinh quan, phát triển đức, trí, thể, mỹ của từng con người cụ thể. Giáo dục còn có sứ mệnh rèn luyện nhân cách cho từng cá nhân làm cho họ trở thành những chủ thể có kỹ năng và bản lĩnh khi đối diện với những vấn đề đặt ra của thế giới và của bản thân. Họ sẽ hiện diện trong môi trường sống không chỉ bằng kiến thức, trí nhớ mà còn sự chọn lựa về đạo đức và hệ thống chính trị (Nguyễn Văn Hiến, 2009). Như vậy, nghiên cứu của tác giả sẽ tiếp cận giáo dục với góc độ là hàng hóa tạo sự phấn khích cho người tiêu dùng, hay là động cơ để hộ gia đình gia tăng chi 11 tiêu cho con em mình nhằm mục đích nâng cao trình độ, tìm được việc làm tốt với mức thu nhập tương xứng.
Ở cách tiếp cận này, chi tiêu cho giáo dục mang ý nghĩa đầu tư nhằm gia tăng vốn con người, nhân tố quan trọng quyết định nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của một đất nước. Chi tiêu cho giáo dục của hộ Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình là phần ngân sách của hộ gia đình dùng để trang trải cho việc tham gia các hoạt động giáo dục và đào tạo của các thành viên trong hộ gia đình. Chi tiêu cho giáo dục của hộ được hiểu là số tiền của hộ gia đình dành cho giáo dục của các thành viên trong hộ trong 12 tháng. Theo sổ tay KSMS hộ gia đình, chi tiêu cho giáo dục của hộ bao gồm các khoản cơ bản sau: Thứ nhất, các khoản chi cho việc đi học của thành viên có đi học trong 12 tháng qua cho những môn học nhà trường quy định, bao gồm: học phí; trái tuyến; đóng góp cho trường lớp (quỹ xây dựng,…); quỹ phụ huynh học sinh, quỹ lớp; quần áo đồng phục và trang phục theo quy định; sách giáo khoa, sách tham khảo; dụng cụ học tập khác (giấy bút, cặp, vở,…); học thêm cho môn học thuộc chương trình quy định; chi giáo dục khác (lệ phí thi, đi lại, trọ, bảo hiểm thân thể học sinh, sinh viên,…).
Thứ hai, chi phí cho giáo dục đào tạo khác trong 12 tháng qua (các bằng ngoại ngữ, đánh máy tốc ký, cắt tóc làm đầu, trang điểm,…). Theo Lassibille (1994), chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình gồm các phần cơ bản như sau: (1) Các khoản chi được quy ước thành tiền mặt: bao gồm học phí phải đóng cho trường học, cơ sở đào tạo; chi cho các loại hình bảo hiểm; những khoản đóng góp bắt buộc hoặc tự nguyện từ phía phụ huynh. 12 (2) Các khoản chi mua những đồ dùng phục vụ trực tiếp cho học tập như: sách giáo khoa, sách tham khảo, tập vở, máy tính, dụng cụ vẽ; các dụng cụ hỗ trợ khác như: cặp sách, đồng phục, quần áo thể dục, dụng cụ thể thao… (3) Các khoản chi mua dịch vụ phụ trợ gồm có: chi phí đưa đón di chuyển là khoản tiền chi cho việc đi lại của người học hoặc của người đưa đón; chi phí cho các bữa ăn tại lớp và nơi ở nội trú, bán trú: đây là chi phí cần phải được tính toán nếu người học tham gia các loại hình nội trú, bán trú hoặc phải đi học xa nhà. (4) Khoản chi trả lãi vay trong trường hợp hộ gia đình phải đi vay tiền để chi cho việc học của các thành viên trong hộ.
Vốn con người Cơ sở lý thuyết vốn con người đề cập đến những sự đầu tư vào con người để gia tăng năng suất lao động của họ. Theo Becker (1993), những sự đầu tư này bao gồm đào tạo phổ cập trong nhà trường và đào tạo chuyên môn trong quá trình làm việc. Đào tạo phổ cập là loại hình đào tạo có lợi ích như nhau (nghĩa là tăng năng suất) trong mọi doanh nghiệp. Đào tạo chuyên môn là loại hình đào tạo chỉ làm tăng năng suất tại những doanh nghiệp liên quan và giá trị đào tạo sẽ mất đi khi người lao động rời khỏi doanh nghiệp này.
Theo Jacob Mincer (1974), vốn con người cũng giống như vốn hữu hình, muốn có thì con người phải đầu tư để tích lũy thông qua giáo dục rèn luyện trong lao động và thuộc về mỗi người và nó đem lại cho người sở hữu nó khoản thu nhập. Trong khi đó, Nguyễn Văn Ngọc (2006) cho rằng: vốn con người là khái niệm để chỉ toàn bộ hiểu biết của con người về phương thức tiến hành các hoạt động kinh tế xã hội. Như vậy về mặt nội dung thì không có gì khác nhau vì những hiểu biết và kinh nghiệm được hình thành và tích lũy trong quá trình học tập và lao động.