Chương I. Khai quát quy định của pháp luật và ap dụng pháp luật. nhóm tội này, người áp dụng pháp luật cũng phải tuân thủ quy định về các căn cứ quyết định hình phạt được quy định tại Diéu 45 Bộ luật hình sự cũng như quy định riêng đối với trường hợp tương ứng. 19 Chương II TOI CƯỚP TAI SAN 1.
Tội cướp tài san theo quy định của Bộ luật hình sự Theo quy định tại Diéu 133 Bộ luật hình sự, tội cướp tải sản là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tan công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiém đoạt tài sản. Dấu hiệu pháp lý a) Khách thé của lội phạm Tội cướp tài sản xâm hại hai quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu. Quan hệ nhân thân bị xâm hai do người phạm tdi thực hiện hành vi tác động dén người bị hại theo hướng tước bỏ khả năng kháng cự của họ, thông qua đó để xâm hại quan hệ sở hữu. b) Mat khách quan của tội phạm Mặt khách quan của tội cướp tài sản được thể hiện qua hành vi khách quan của tội phạm là hành vi nhằm làm mất khả nang khang cự của chủ sở hữu hoặc người quản ly tải sản.
Hanh vi này được thể hiện qua các dạng hành vi cụ thé sau đây: 21 ; ae Aa > ~ , ig a .x ua kả Các tôi xâm phạm sở hữu có tính chút chiếm đoạt tài sản - Dùng vũ lực: là hành vi dùng sức mạnh thể chất tác động đến cơ thé người bị hại như đánh, ban, chém. để thực hiện mục đích chiếm đoạt tài sản. - De dọa dùng vũ lực ngay tức khắc: là hành vi bằng lời nói, cử chỉ chuyên tải đến người bị hại thông điệp: nếu người đó không giao tài sản hoặc can trở việc chiếm đoạt tài sản thì hành vi dùng vũ lực để loại trừ khả năng chống cự-của người bị hại sẽ được thực hiện ngay (ví dụ: de dọa đâm, ban. Thông điệp de dọa này có thé được chuyển tải qua lời nói nhưng cũng có thé qua hành động cụ thé như kề dao vào cổ, di súng vào đầu người bị hại.
đồng thời yêu cầu giao nộp tài sản. Cân chú ý phân biệt hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc được quy định ở tội này với hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực ở tội cưỡng đoạt tài sản. Với hành vi đe doa dùng vũ lực ngay tức khắc, người phạm tội thể hiện rõ thông điệp đe dọa sử dụng vũ lực với người bị hại ngay lập tức, không có khoảng thời gian trống để người bị hại tìm biện pháp đối phó. - Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được để chiếm đoạt tài sản như dùng thuốc mê, thuốc ngủ.
để tước bỏ khả năng kháng cự của người bị hại. Cả ba dạng hành vi nói trên của tội cướp tài sản đều có tính nguy hiểm cao cho xã hội, đều chứa đựng khả năng vô 22 Chương II. Tội cướp tài sản hiệu hóa khả năng tự bảo vệ tai sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản. Trên thực tế có những trường hợp mặc dù hành vi nói trên được thực hiện (có thé là hành vi dùng vũ lực, có thé là hành vi de doa dùng vũ lực ngay tức khắc, có thể là hành vi khác làm cho người bị tân công lâm vào tình trạng không thé chỗng cự được) nhưng vì lý do nào đó mà người bị tan công không lâm vào tinh trạng mat kha năng khang cu, ví dụ: người bị tan cong chống trả lại được: người phạm tội, người phạm tội sử dụng thuốc ngủ chưa đủ liều để làm người bị hại ngủ.
Tuy nhiên, tội phạm vẫn hoàn thành ngay từ khi một trong các hành vi này được thực hiện. Hậu quả của tội phạm không phải là dau hiệu định tội của tội nay. Mặc dù thống nhất xác định tội cướp tài sản là tội có cầu thành tội phạm hình thức nhưng quan điểm của các nhà khoa học hiện nay vẫn có những khác biệt nhất định về thời điểm hoàn thành của tội phạm này. Nếu như thời điểm hoản thành tội phạm khi tội phạm được thực hiện bằng loại hành vi phạm tội thứ nhất và hành vi phạm tội thứ hai trong cau thành tội phạm cơ bản (hành vi dùng vũ lực hoặc hành vi de dọa dùng vũ lực ngay tức khắc) nhận được quan điểm thống nhất về thời điểm tội phạm hoàn thành (ngay từ khi hành vi này được thực hiện, không kế nạn nhân có bị lâm vào tình trang mat khả năng khang cự hay không), thì trường hợp tội 23 Các tội xâm pham sở hữu có tinh chất chiếm đoạt tài sản phạm được thực hiện băng dạng hành vi khách quan thứ ba (dùng thủ đoạn khác làm cho nạn nhân lâm vào tình trạng không thể chống cự được) lại dẫn đến hai cách hiểu khác nhau về thời điểm hoàn thành của tội phạm.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi khách quan này nhưng vì lý do khách quan nạn nhân không bị lâm vào tình trạng không thé chống cự được thi tội phạm được xác định là phạm tội chưa đạt, chỉ khi nạn nhân bị thủ đoạn của người phạm tội đây vào tình trạng không thé chống cự được thì tội phạm mới hoàn thành. Khác với quan điểm này, quan điểm thứ hai cho rằng, trường hợp tội phạm được thực hiện bằng hành vi khách quan thứ ba thì chỉ cần người phạm tội thực hiện hành vi thì tội phạm đã hoàn thành (việc nạn nhân đã bị lâm vào tình trạng không thể chéng cự được không phải là dau hiệu bắt buộc). Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai với lý do: ba dạng hành vi khách quan được quy định trong cùng điều luật phải là những hành vi có tính*nguy hiểm cho xã hội tương đương nhau. Vì vậy, cụm từ “làm cho người bị tan công lâm vào tình trạng không thể chống cự được” được sử dụng để mô tả tính chất của thủ đoạn mả người phạm tội sử dụng trong tội này, làm cơ sở đề phân biệt với thủ đoạn được quy định là hành vi khách quan trong mộtsố tội khác (vi dụ: thủ doạn khác uy hiếp tinh thần người khác trong tội cưỡng doạt tài sản).
Trong 24 Chương II. Tội cướp tài sản khi nếu người phạm tội thực hiện tội phạm này bằng cách dùng vũ lực hay de dọa dùng vũ lực ngay tức khắc sẽ được xác dinh là tội phạm hoàn thành ngay thì không có ly do gì để xác dịnh trường hợp thực hiện tội phạm bằng hành vi thứ ba chỉ được coi là tội phạm hoàn thành khi người bị tấn công đã lam vào tình trang không thể chỗng cự được. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy quy định về mặt khách quan của tội cướp tài sản hiện nay chưa thực sự hợp ly. Theo đó, hành vi chiếm đoạt tai sản cần được mô tả vào cấu thành tội phạm dé thé hiện đầy đủ bản chất chiếm đoạt tài sản của loại tội này.
Chính sách phân hóa trách nhiệm hình sự có thé được thé hiện qua quy định về hình phạt đối với tội phạm. Khoa học pháp lý hình sự phi nhận cả những trường hợp chuyển hóa từ tội phạm khác xâm phạm sở hữu (ví dụ: tội trộm cắp tài sản, tội cướp giật tài sản) thành tội cướp tài sản. Day là những trường hợp lúc dau người phạm lội thực hiện tội phạm khác xâm phạm sở hữu nhưng vì gặp các yếu t6 can trở trong VIỆC chiếm đoạt tài sản (cản trở đối với hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc can trở đối với việc giữ tài sản đã chiếm đoạt được.) nên đã thực hiện hành vi thuộc mặt khách quan của tội cướp tai sản dé loại trừ trở ngại. thực hiện mục dich chiếm đoạt tải sản.
25 Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm doat tài sản c) Chủ thé của tội phạm Chủ thể của tội cướp tài sản là chủ thể thường, là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tudi luật hình sự quy định. d) Mat chủ quan của tội phạm Tội cướp tài sản được thực hiện với lỗi có ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội biết rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Mục đích của người phạm tội là nhằm chiếm đoạt tài sản.
Đây cũng là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội này.2, Hình phat Điều 133 Bộ luật hình sự quy định 04 khung hình phạt: a) Khoản 1 quy định phat tù từ 03 năm đến 10 năm đối với các trường hợp phạm tội thuộc cấu thành tội phạm cơ bản. b) Khoản 2 quy định hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm déi với các trường hợp phạm tội sau: - Có tô chức: là trường hợp đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ piữa những người cùng thực hiện tội cướp tải sản. 26 Chương II.
Tội cướp tai sản - Có tính chất chuyên nghiệp. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HDTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Tham phán Tòa án nhân dân tối cao, chỉ áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” khi có đầy đủ các điều kiện sau đây: + Cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm (trong trường hợp này là cùng về tội cướp tài sản) không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xoá án tích; + Người phạm tội đều lay các lần phạm tội làm nghé sinh sống và lay kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính. Khi áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”, cân lưu ý đối với trường hợp phạm tội từ năm lần trở lên mà trong đó có lần phạm tội đã bị kết án, chưa được xoá án tích thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội có thé bị áp dụng ca ba tình tiết là “phạm tội nhiều lần”, “tái phạm" (hoặc “tái phạm nguy hiểm”) và “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”. - Tái phạm nguy hiểm: là trường hợp phạm tội cướp tài sản thỏa mãn quy định tại khoản 2 Điều 49 Bộ luật hình sự.
- Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác.