Đặt vấn đề Sự biến động của tỷ hối đoái sẽ kéo theo nhiều tác động đối với trạng thái cân bằng chung của nền kinh tế. Việc tỷ giá hối đoái bị định giá quá cao hay định giá quá thấp so với mức tỷ giá cân bằng đều gây ra những tác động truyền dẫn tiêu cực: tỷ giá hối đoái thấp hơn mức cân bằng sẽ làm giảm đi sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu, từ đó làm xấu đi cán cân thƣơng mại, trong khi tỷ giá hối đoái bị định giá cao sẽ gây áp lực lên giá cả hàng hóa trong nƣớc, khiến cho lạm phát gia tăng và gây ra tình trạng bất ổn cho nền kinh tế. Do đó, việc xác định độ lệch tỷ giá hối đoái so với giá trị cân bằng là một vấn đề cấp thiết đƣợc đặt ra cho mỗi quốc gia. Mặt khác, để các chính sách điều hành tỷ giá phát huy đƣợc tính hiệu quả, đạt đƣợc các mục tiêu kinh tế xã hội đề ra thì cần phải xác định đƣợc các nhân tố có ảnh hƣởng và cơ chế tác động của chúng đến tỷ giá hối đoái, từ đó đƣa ra các chính sách điều chỉnh phù hợp với thực tế, đúng với trọng tâm vấn đề cần giải quyết.
Mục tiêu nghiên cứu Thứ nhất, nghiên cứu sẽ xác định vai trò và đánh giá mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô đối với tỷ giá hối đoái thực có hiệu lực tại Việt Nam, từ đó làm cơ sở để tính toán tỷ giá thực cân bằng trong dài hạn. Thứ hai, dựa vào giá trị tỷ giá cân bằng trong dài hạn thu đƣợc, nghiên cứu sẽ tiến hành xác định độ lệch của tỷ giá trong thực tế so với tỷ giá cân bằng, qua đó một mặt đánh giá đƣợc tình trạng sai lệch của tỷ giá tại Việt Nam, mặt khác dùng làm cơ sở để gợi ý các chính sách điều tiết tỷ giá một cách có hiệu quả, theo sát với diễn biến của thị trƣờng. 2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng của đề tài là mối quan hệ trong dài hạn giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô đối với tỷ giá hối đoái thực và độ lệch của tỷ giá trong thực tế khỏi giá trị cân bằng dài hạn. Các yếu tố kinh tế vĩ mô đƣợc xem xét cụ thể ở đây là chi tiêu của chính phủ, mức cung tiền trong nƣớc, tỷ lệ tài sản có ngoại tệ ròng, độ mở của nền kinh tế, chênh lệch năng lực sản xuất và chênh lệch lãi suất trong nƣớc so với nƣớc ngoài.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn tại thị trƣờng Việt Nam. Do tính hạn chế về mặt dữ liệu, đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu đƣợc cho giai đoạn từ năm 2000 – 2016. Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài xác định mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô đối với tỷ giá thực và độ lệch của tỷ giá khỏi giá trị cân bằng dựa trên cơ sở mô hình tỷ giá cân bằng hành vi (Behavioral Equilibrium Exchange Rate - BEER) do Clark và MacDonald đƣa ra vào năm 1998. Đề tài tiếp cận mô hình dựa trên phƣơng pháp hồi quy vector hiệu chỉnh sai số (Vector Error Correction Model – VECM) nhằm đánh giá đƣợc mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến số trong mô hình, đồng thời giải thích đƣợc các biến động trong ngắn hạn do các cú sốc kinh tế.
Kết cấu của đề tài Đề tài gồm có 3 phần: - CHƢƠNG I: Tổng quan chung về vấn đề nghiên cứu - CHƢƠNG II: Xây dựng mô hình xác định tỷ giá hối đoái cân bằng dài hạn tại Việt Nam - CHƢƠNG III: Kết quả nghiên cứu – mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô đối với tỷ giá thực và độ lệch của tỷ giá trong thực tế khỏi giá trị cân bằng dài hạn - CHƢƠNG IV: Đánh giá và kết luận 3 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan chung về vấn đề nghiên cứu Tỷ giá hối đoái biến động lệch khỏi mức cân bằng, cho dù bị định giá cao hay định giá thấp cũng đều kéo theo nhiều tác động truyền dẫn tiêu cực: tỷ giá hối đoái bị định giá thấp hơn mức cân bằng sẽ làm giảm đi sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu, từ đó làm xấu đi cán cân thƣơng mại; trong khi tỷ giá hối đoái bị định giá cao sẽ gây áp lực lên giá cả hàng hóa trong nƣớc, khiến cho lạm phát gia tăng và gây ra tình trạng bất ổn cho nền kinh tế. Do đó, việc xác định mức tỷ giá cân bằng và độ lệch tỷ giá hối đoái trong thực tế so với giá trị cân bằng là một trong những vấn đề cấp thiết đƣợc đặt ra cho mỗi quốc gia. Bên cạnh đó, để mục tiêu điều hành tỷ giá đi đúng định hƣớng và có tính hiệu quả, cần phải xác định đƣợc các yếu tố chính có tác động đến tỷ giá hối đoái thực, từ đó đƣa ra các chính sách điều tiết phù hợp hƣớng tới đúng đối tƣợng cần điều chỉnh, tránh gây ra các phản ứng phụ tiêu cực khác trên thị trƣờng.
Để tính đƣợc độ lệch của tỷ giá hối đoái trong thực tế, trƣớc hết cần phải xác định đƣợc mức tỷ giá hối đoái cân bằng. Trên thế giới có nhiều trƣờng phái nghiên cứu về tỷ giá với nhiều hƣớng tiếp cận khác nhau, trong đó hƣớng nghiên cứu xác định độ lệch của tỷ giá theo hƣớng tiếp cận các mô hình lý thuyết truyền thống nhƣ ngang giá sức mua và ngang giá lãi suất thƣờng ít đƣợc áp dụng trong thực tế do tồn tại nhiều hạn chế xuất phát từ các giả định lý thuyết nền bị vi phạm. Bên cạnh đó, có rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các mối quan hệ ngang giá này thƣờng không đƣợc duy trì liên tục, đặc biệt là trong ngắn hạn do những tồn tại bất cân xứng của thị trƣờng. Hƣớng tiếp cận khác thƣờng đƣợc sử dụng là các mô hình nghiên cứu thực nghiệm.
Các nghiên cứu thực nghiệm về tỷ giá trên thế giới có 2 phƣơng pháp tiếp cận phổ biến: mô hình tỷ giá cân bằng cơ sở (Fundamental Equilibrium Exchange Rate – FEER) và mô hình tỷ giá cân bằng hành vi (Behavioral 4 Equilibrium Exchange Rate – BEER). Mô hình tỷ giá cân bằng cơ sở dựa trên điều kiện cân bằng cả bên trong lẫn bên ngoài của nền kinh tế vĩ mô, với ƣu điểm dễ áp dụng và có khả năng giải thích đƣợc các biến động trong dài hạn của tỷ giá, trong khi mô hình tỷ giá cân bằng hành vi cho phép giải thích đƣợc các biến động trong ngắn hạn của tỷ giá dựa trên các thành phần kinh tế cơ bản. Các mô hình thực nghiệm nghiên cứu tỷ giá cân bằng 1. Mô hình tỷ giá cân bằng cơ sở (Fundamental Equilibrium Exchange Rate – FEER) Mô hình FEER đƣợc đề xuất lần đầu tiên bởi Williamson (1994), dựa trên điều kiện cân bằng cả bên trong lẫn bên ngoài của nền kinh tế vĩ mô.
Cân bằng bên trong đƣợc xác định tại mức sản lƣợng tiềm năng tƣơng ứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và tỷ lệ lạm phát thấp bền vững. Cân bằng bên ngoài đƣợc xác định bởi các dòng vốn luân chuyển bền vững giữa các quốc gia khi đã đạt đƣợc trạng thái cân bằng bên trong. Theo mô hình FEER, tỷ giá cân bằng đƣợc xác định dựa trên trạng thái cân bằng trong trung và dài hạn của cán cân vãng lai và trạng thái toàn dụng của nền kinh tế. Cốt lõi của mô hình FEER là sự cân bằng giữa tài khoản vãng lai (CA) và tài khoản vốn (KA): CA = - KA Trong điều kiện nền kinh tế đạt trạng thái toàn dụng thì trạng thái của cán cân vãng lai đƣợc biểu thị qua hàm số tuyến tính của các biến tỷ giá thực đa phƣơng (q), tổng cầu hay tổng thu nhập quốc dân trong nƣớc ( ̅d) và tổng thu nhập quốc dân ở nƣớc ngoài ( ̅f).1) Trong đó: b1 < 0, b2 > 0 và b3 > 0, tƣơng ứng với các thành phần chính cấu thành nên cán cân vãng lai: cán cân thƣơng mại (q) và cán cân thu nhập ( ̅d và ̅f).
̅̅̅̅ là chênh lệch giữa mức tiết kiệm và đầu tƣ, biểu thị trạng thái của cán cân 5 vốn trong trung hạn. Từ phƣơng trình (1.1), tỷ giá cân bằng cơ sở FEER đƣợc xác định: ̅̅̅̅ ̅ ̅ FEER = Mô hình FEER xem xét tỷ giá đặt trong điều kiện cân bằng bền vững cả bên trong lẫn bên ngoài của nền kinh tế trong trung và dài hạn. Các yếu tố mang tính chu kỳ và đầu cơ trong ngắn hạn của thị trƣờng ngoại hối không đƣợc xem xét tới trong mô hình. Vì vậy mô hình FEER phù hợp trong việc giải thích các biến động của tỷ giá cân bằng trong trung và dài hạn hơn là trong ngắn hạn.
Mô hình tỷ giá cân bằng hành vi – (Behavioral Equilibrium Exchange Rate – BEER) Phƣơng pháp xác định tỷ giá cân bằng BEERs (Behavioral Equilibrium Exchange Rate) đƣợc Clark và MacDonald đƣa ra vào năm 1998. Theo đó, phƣơng pháp này giúp phân tích sự biến động của tỷ giá hối đoái thực thông qua các yếu tố kinh tế tác động đến tỷ giá theo thời gian. Tỷ giá thực BEER đƣợc xây dựng dựa trên hai nhóm yếu tố cơ bản: (1) các yếu tố cơ bản có tác động đến tỷ giá cân bằng trong trung hạn và dài hạn, và (2) các yếu tố tạm thời khác có ảnh hƣởng đến tỷ giá trong ngắn hạn: qt = β1’Z1t + β2’Z2t + τ’Tt + εt (1.2) Với: Z1: vector các yếu tố kinh tế cơ bản đƣợc kỳ vọng có tác động lên tỷ giá trong dài hạn, Z2: vector các yếu tố kinh tế cơ bản có tác động lên tỷ giá trong trung hạn, T: vector các yếu tố tạm thời có tác động đến tỷ giá trong ngắn hạn, β1, β2, τ: vector hệ số góc của các biến, εt : sai số ngẫu nhiên. 6 Nhƣ vậy, theo phƣơng trình (1.2) tỷ giá hối đoái thực có hiệu lực sẽ chịu ảnh hƣởng bởi tập hợp các yếu tố kinh tế vĩ mô cơ bản Z1 và Z2, các yếu tố ảnh hƣởng đến tỷ giá trong ngắn hạn T, và sai số ngẫu nhiên εt.
Tỷ giá cân bằng trong hiện tại, ký hiệu q’, sẽ chịu ảnh hƣởng bởi giá trị hiện tại của các yếu tố kinh tế vĩ mô trung và dài hạn: qt’ = β1’Z1t + β2’Z2t Độ lệch của tỷ giá trong hiện tại (current misaligment - cmt) là sự khác biệt giữa tỷ giá quan sát đƣợc trong thực tế so với tỷ giá cân bằng trong hiện tại, đƣợc ƣớc lƣợng bằng cách sử dụng các giá trị hiện tại của yếu tố kinh tế cơ bản.