MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hệ thống trung gian tài chính nói chung và NHTM nói riêng có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, NHTM phân phối vốn trong nền kinh tế từ nơi có nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi đến các cá nhân doanh nghiệp thiếu vốn nhằm tạo điều kiện cho họ có cơ hội đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao công nghệ, làm cho các chủ thể kinh tế phụ thuộc lẫn nhau. Đồng thời còn khiến hệ thống NH liên kết chặt chẽ và năng động hơn. “Hoạt động của ngành NH góp phần ổn định kinh tế vĩ mô; ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối; phục vụ, bảo đảm cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của doanh nghiệp và người dân; góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước” (Thủ tướng Phạm Minh Chính, 2022).
Trong cuộc chiến chống dịch Covid-19, NHNN cho biết, hệ thống NH vô cùng nỗ lực để tháo gỡ khó khăn của người dân và doanh nghiệp. Theo NHNN “đến cuối tháng 09/2021, các NH đã cơ cấu lại thời gian trả nợ cho hơn 278.000 khách hàng với dư nợ 238.000 tỷ đồng, giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng từ ngày 31/01/2020 khoảng 531.000 tỷ đồng; miễn, giảm và hạ lãi suất cho khoảng 1,7 triệu khách hàng với dư nợ gần 2,5 tỷ đồng. Nhờ vậy mà hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp được cải thiện; lạm phát được kiểm soát, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế”. Chính vì vậy mà lợi nhuận ròng của các NH bị ảnh hưởng nghiêm trọng, kéo theo đó là sự giảm xuống của các chỉ tiêu phản ánh KNSL của các NHTM Việt Nam.
KNSL là một trong các đo lường quan trọng đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh. KNSL là cơ sở giúp đổi mới NH và tạo nên sự phong phú cho tệp sản phẩm, qua đó có thể hoạt động hiệu quả, phát triển mạnh mẽ và bền vững. Năng lực kinh doanh của các NH đóng góp rất lớn vào sự phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế. Để một NH có thể hoạt động tốt thì các nhà lãnh đạo NH phải có những chính sách hoạt động kinh doanh phù hợp giúp NH giảm thiểu chi phí, cải thiện lợi nhuận, từ đó nâng cao khả năng sinh lời.
Vì vậy, những vấn đề liên quan đến KNSL của các NH luôn là vấn đề quan tâm 1 hàng đầu đối các nhà quản lý cấp cao của NH, các nhà đầu tư trong nền kinh tế, người gửi tiền và cả Chính phủ. Từ thực tiễn đó, tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “ Các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của NH thương mại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến KNSL của các NHTM và tương quan của các nhân tố đó đến KNSL. Vấn đề nghiên cứu Đề tài nghiên cứu về các nhân tố tác động đến KNSL của các NHTM là một trong những vấn đề nghiên cứu được rất nhiều các kinh tế học quan tâm. Một số nghiên cứu trước đó tập trung nghiên cứu về các nhân tố tác động đến KNSL của các NH tại nhiều quốc gia trên thế giới, một số khác lại lựa chọn hướng phân tích dựa trên dữ liệu của các NH tại một quốc gia cụ thể.
Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy các nhân tố tác động chia thành hai loại là các nhân tố nội tại của NH và các nhân tố vĩ mô. Dựa trên cơ sở và lý do nêu trên, vấn đề nghiên cứu chính của khóa luận là phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới KNSL của NHTM Việt Nam. Đồng thời đề tài cũng đánh giá chiều hướng và mức độ tác động của các nhân tố này đến KNSL của NHTM tại Việt Nam. Tổng quan nghiên cứu - Nghiên cứu quốc tế Nghiên cứu của Kyriaki Kosmidou (2008) thu thập dữ liệu của 23 NHTM tại Hy Lạp với phạm vi thời gian là từ năm 1990 – 2002, bao gồm 154 quan sát.
Tác giả ROAA làm BPT để đo lường KNSL của các NH. Các BĐL trong bài nghiên cứu chia thành hai nhóm là Nhóm các nhân tố vi mô và Nhóm các nhân tố vĩ mô. Nghiên cứu cho thấy “Các nhân tố thể hiện đặc điểm của NH tác động đáng kể đến ROAA của các NHTM. Các NH có vốn hóa tốt, có khả năng quản lý chi phí hiệu quả thì sẽ có tỷ lệ ROAA cao.
Chi phí nhân sự của các NHTM tại Hy Lạp tuy đã giảm trong giai đoạn năm 1990 – 2008 nhưng vẫn cao hơn so với các nước EU khác, điều này cho thấy rằng hệ 2 thống NH tại Hy Lạp đang dư thừa nhân lực. Như vậy, để có thể cạnh tranh và tăng khả năng sinh lời, các NH Hy Lạp không chỉ phải mở rộng thị phần, nâng cao chất lượng dịch vụ mà còn phải quản lý tốt chi phí hoạt động. Đối với các nhân tố thể hiện cấu trúc ngành và nhân tố vĩ mô, GDPGR tác động tích cự và đáng kể đến KNSL của các NH, trong khi đó lạm phát lại có tác động tiêu cực tới tỷ lệ ROAA. Các chỉ số cơ cấu ngành tài chính, Tài sản NH/ GDP (ASSGDP), Vốn hóa thị trường/ Tổng tài sản NH (MACPASS) và mức độ tập trung đều có ý nghĩa thống kê và có tác động tiêu cực đến ROAA”.
Nghiên cứu của Davydenko và Antonina (2011) sử dụng BCTC của các NH tại Ukraine. Dữ liệu được tác giả thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2005 - 2009. Sau khi sàng lọc thì kích thước mẫu của nghiên cứu này bao gồm 3236 quan sát. Các BPT của nghiên cứu này là ROA và ROE, Antonina đưa vào mô hình của mình 3 nhóm BĐL là Nhóm nhân tố bên trong, Nhóm nhân tố ngành, Nhóm thể hiện các nhân tố vĩ mô.
Theo kết quả của bài nghiên cứu, “Mặc dù lượng tiền gửi vào các NH ngày càng tăng nhưng NH tại Ukraine có chất lượng cho vay thấp kéo theo lợi nhuận cũng bị sụt giảm”. Nghiên cứu này còn chỉ ra rằng “RRTD ảnh hưởng mạnh đến KNSL của các NH. Nếu các NH gia tăng dự phòng rủi ro thì mức độ rủi ro của NH sẽ giảm, kéo theo đó là sự tăng lên của các tỷ suất sinh lời. Thêm nữa, Chi phí quản lý/ Tổng tài sản có tác động tiêu cực đến KNSL của NHTM”.
Nghiên cứu của Kosmidou, K. (2012) sử dụng dữ liệu bảng thu thập từ BCTC của 32 NHTM tại Anh với khoảng thời gian là từ năm 1995 – 2002, bao gồm 224 quan sát. Tác giả sử dụng ROAA và NIM để phản ánh KNSL của các NHTM tại Anh. Các BĐL được đưa vào mô hình hồi quy là Nhóm nhân tố nội bộ NH và Nhóm nhân tố vĩ mô.
Kết quả nghiên cứu cho thấy “Sức mạnh vốn, được thể hiện bằng tỷ lệ Vốn chủ sở hữu/ Tổng tài sản (EQAS) là nhân tố chính quyết định lợi nhuận của các NH Anh, những NH có vốn hóa càng tốt thì tỷ lệ sinh lời đo lường qua ROAA và NIM càng cao. Tác động của khả năng thanh toán và tỷ lệ Dự phòng rủi ro/ Tổng tài sản đến hoạt động của NH không rõ ràng và thay đổi tùy theo thước đo KNSL được sử 3 dụng. Cụ thể, khả năng thanh toán tác động tiêu cực đến NIM nhưng tác động tích cực đến ROAA, tỷ lệ Dự phong rủi ro/ Tổng tài sản lại tác động tích cực tới NIM nhưng tác động tiêu cực và không đáng kể tới ROAA”. Nghiên cứu của Elouali Jaouad và Oubdi Lahsen (2018) sử dụng dữ liệu thu thập từ BCTC của sáu NH tại Maroc trong khoảng thời gian từ năm 2010 – 2016.
Tác giả sử dụng tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên VCSH (ROE) làm các BPT cho mô hình phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến KNSL của NHTM. Các BĐL trong bài nghiên cứu bao gồm 4 nhóm nhân tố: Nhóm nhân tố thể hiện đặc điểm NH, Nhóm nhân tố thể hiện cấu trúc ngành, Nhóm nhân tố thể hiện năng lực quản trị NH, Nhóm nhân tố vĩ mô. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng “Tất cả các BĐL không có ý nghĩa thống kê, ngoại trừ nhân tố hiệu quả quản lý điều hành, được thể hiện bằng tỷ lệ chi phí trên thu nhập (COST) và quy mô NH (BS). Tỷ lệ chi phí trên thu nhập (COST) có ý nghĩa rất lớn và liên quan tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của NH.
Hơn nữa, nghiên cứu phát hiện mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa thống kê giữa tổng tài sản của các NH và KNSL được đo lường bằng ROA. Các nhân tố còn lại ảnh hưởng không đáng kể tới KNSL của các NH tại Maroc”. - Nghiên cứu trong nước Nghiên cứu của Đoàn Việt Hùng (2016) thu thập dữ liệu từ BCTC của 30 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2008 – 2014 với BĐL là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA). Các BĐL được tác giả sử dụng trong mô hình hồi quy là Tổng tiền mặt (TM), Tiền gửi tại các tổ chức khác (TG), Tổng dư nợ (KCV), Vốn chủ sở hữu của NH (VCSH).
Nghiên cứu này cho thấy “Các nhân tố Tổng tiền mặt, Tiền gửi tại các tổ chức, Tổn dư nợ, Vốn chủ sở hữu của NH đều tác động đến KNSL của các NHTM tại Việt Nam. Biến đầu tiên là LnVCSH được tìm thấy tác động cùng chiều và khá mạnh mẽ đến ROA. Vì nguồn VCSH bao gồm vốn đóng góp của các nhà đầu tư, các khoản thặng dư vốn do phát hành cổ phiếu cao hơn mệnh giá, các khoản nhận biếu, tặng, tài trợ, các khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá hối đoái,…Qua đó, 4 có thể thấy mối tương quan thuần chiều giữa VCSH và KNSL của NH. Ba biến còn lại là TM, TG, KCV đều ảnh hưởng tiêu cực đến KNSL của các NH”.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hiền (2017), tác giả thu thập dữ liệu từ BCTC đã kiểm toán được công bố trên website của 22 NHTM tại Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2006 – 2015. ROA và ROE là hai BPT được tác giả đưa ra để đo lường KNSL của các NH. Các BĐL của bài nghiên cứu bao gồm 2 nhóm chính là Nhóm các nhân tố bên trong NH và Nhóm các nhân tố liên quan đến hội đồng quản trị của NH. Kết quả nghiên cứu cho thấy “Lo_TA, LLP, IE_L, NII_TA ảnh hưởng cùng chiều tới các tỷ suất sinh lời của NH.
Trong khi đó, NPL, OE_TI và Quy mô hội đồng thành viên có tương quan ngược chiều với khả năng sinh lời.