CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 1. Kinh tế nông nghiệp 1. Khái niệm về kinh tế nông nghiệp[9], [11] Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp. Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học - kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học - cây trồng, vật nuôi.
Chúng phát triển theo qui luật sinh học nhất định con người không thể ngăn cản các quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chúng, mà phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn các qui luật để có những giải pháp tác động thích hợp với chúng. Mặt khác quan trọng hơn là phải làm cho người sản xuất có sự quan tâm thoả đáng, gắn lợi ích của họ với sử dụng quá trình sinh học đó nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng hơn. Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp. Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng nó còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản nữa.
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển. Ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên, ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm. Những sản phẩm này cho dù trình độ khoa học - công nghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được.
Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư 5 liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản. Như vậy, hệ thống kinh tế nông nghiệp là tổng thể quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, biểu hiện bằng những hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, những hình thức tiêu dùng các sản phẩm sản xuất ra với những hình thức tổ chức sản xuất, trao đổi, phân phối và cơ chế quản lý tương ứng của Nhà nước đối với toàn bộ nền nông nghiệp.
Nói cách khác, hệ thống kinh tế nông nghiệp là tổng thể các quan hệ kinh tế trong nông nghiệp. Cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp [9] - Cơ cấu kinh tế chung được xác định là: tương quan giữa các bộ phận trong tổng thể kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa các bộ phận. - Trong kinh tế nông nghiệp cũng có nhiều phân ngành đó là trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản, lâm nghiệp, diêm nghiệp và dịch vụ nông nghiệp. Do đó cơ cấu trong kinh tế nông nghiệp là: Sự tương quan giữa các phân ngành trồng trọt.
chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản, lâm nghiệp, diêm nghiệp và dịch vụ nông nghiệp; thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa các bộ phận trong toàn bộ nền nông nghiệp. Tùy theo đặc điểm tự nhiên; sự tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp và sự hoạch định chung của chính phủ cho từng địa phương mà cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp ở mỗi vùng miền có sự phát triển và tỷ lệ khác nhau. Như đối với vùng đồng bằng Bắc bộ, đồng bằng sông Cửu Long thì cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi; đối với vùng ven biển thì cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp chủ yếu là khai thác, nuôi trồng thủy hải sản, diêm nghiệp; đối với vùng trung du và miền núi thì cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp…. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp ngoài những điểm chung giống như các ngành kinh tế khác thì còn có những đặc điểm riêng có như sau: 1.
Mặt nước vừa là đối tượng của sản xuất vừa là tư tiệu sản xuất cúa sản xuất nông nghiệp + Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất. Các Mác viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp”. Bởi vậy, nếu không có đất đai thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày nay. Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài con người chiếm hữu đất đai biến đất đai từ một sản vật tự nhiên thành một tài sản của cộng đồng, của một quốc gia.
+ Đất đai có tính cố định vị trí, không thể di chuyển được, tính cố định vị trí quyết định tính giới hạn về quy mô theo không gian và chịu sự chi phối của các yếu tố môi trường nơi có đất. Mặt khác, đất đai không giống các hàng hóa khác có thể sản sinh qua quá trình sản xuất do đó, đất đai là có hạn + Đất đai là một tài sản không hao mòn theo thời gian và giá trị đất đai luôn có xu hướng tăng lên theo thời gian. Đất đai có tính đa dạng phong phú tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng đất đai và phù hợp với từng vùng địa lý, đối với đất đai sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì tính đa dạng phong phú của đất đai do khả năng thích nghi cuả các loại cây, con quyết định và đất tốt hay xấu xét trong từng loại đất để làm gì, đất tốt cho mục đích này nhưng lại không tốt cho mục đích khác. Đất đai một tư liệu sản xuất gắn liền với hoạt động của con người.
Con người tác động vào đất đai nhằm thu được sản phẩm để phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống. Tác động này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp và làm 7 thay đổi tính chất của đất đai có thể chuyển đất hoang thành đất sử dụng được hoặc là chuyển mục đích sử dụng đất. Tất cả những tác động đó của con người biến đất đai từ một sản phẩm của tự nhiên thành sản phẩm của lao động. Trong điều kiện sản xuất tư bản chủ nghĩa, những đầu tư vào ruộng đất có liên quan đến các quan hệ kinh tế – xã hội.
Trong xã hội có giai cấp, các quan hệ kinh tế – xã hội phát triển ngày càng làm các mâu thuẫn trong xã hội phát sinh, đó là mối quan hệ giữa chủ đất và nhà tư bản đi thuê đất, giữa nhà tư bản với công nhân. Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ đất đai phong phú hơn rất nhiều, quyền sử dụng đất được trao đổi, mua bán, chuyển nhượng và hình thành một thị trường đất đai. Lúc này, đất đai được coi như là một hàng hoá và là một hàng hoá đặc biệt. Thị trường đất đai có liên quan đến nhiều thị trường khác và những biến động của thị trường này có ảnh hưởng đến nền kinh tế và đời sống dân cư.
Đối tượng của lao động nông nghiệp là những sinh vật sống Đây là đặc điểm quan trọng và khác biệt của kinh tế nông nghiệp; những sản phẩm của nông nghiệp tuyệt đạị bộ phận là những sinh vật sống như cây trồng, vật nuôi, thủy, hải sản (trừ sản phẩm muối của ngành diêm nghiệp). Là sinh vật sống nên các loại cây trồng, vật nuôi, thủy hải sản có những đặc tính cơ bản là: - Có những giới hạn nhất định về tốc độ tăng trưởng và trọng lượng, khối lượng. - Dễ bị tác động của dịch bệnh và môi trường tự nhiên. - Đễ bị phân hủy, thay đổi chất lượng, khó bảo quản lâu dài trong điều kiện thông thường.
- Sự tác động của khoa học, công nghệ đối với sinh vật sống để nâng cao năng xuất và phẩm cấp chất lượng phải có một quá trình lâu dài, nhiều thế hệ do đó tốc độ tăng trưởng của kinh tế nông nghiệp thường không cao. Trường hợp tăng trưởng cao chủ yếu là do tăng diện tích và số lượng vật nuôi, cây trồng. Kinh tế nông nghiệp chịu tác động rất lớn của điều kiện tự nhiên - Điều kiện quan trọng nhất trong kinh tế nông nghiệp là nước. Nước là nhân tố của sự sống, mọi sinh vật đều phải dựa vào nước để tồn tại và phát triển.
Mỗi loại cây trồng, vật nuôi và thủy, hải sản lại thích ứng với từng loại nước khác nhau như nước ngọt, nước lợ, nước mặn, song đại bộ phận là cần tới nước ngọt tự nhiên. Trong thiên nhiên nước ngọt chỉ chiếm 3% tổng lượng nước toàn cầu. Song sự phận bố lại rất không đều, chủ yếu là các khối băng ở Bắc và Nam cực, phần còn lại là nước ngầm và nước mặt trên các hồ, đầm, sông, suối. Nước sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt chiếm tỷ lệ rất nhỏ, nhất là những quốc gia thuộc vùng Bắc Phi, Trung Đông.
Trong thế kỷ 21 nước ngọt ngày càng khan hiếm và được coi là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá để phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt là với sản xuất nông nghiệp của từng quốc gia và vùng lãnh thổ. - Thời tiết cực đoan như nhiệt độ tăng cao, hạn hán, bão lũ, sóng thần, nước biển dâng do hiệu ứng nhà kính của khí thải công nghiệp ngày càng xuất hiện với tần suất nhiều hơn, mức độ khốc liệt và tàn phá ngày càng lớn. Đặc biệt là việc nước biển dâng cao đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền nông nghiệp của các nước ven biển. Theo dự báo của Hội nghị quốc tế về biến đổi khí hậu toàn cầu thì đến cuối thế kỷ này mực nước biển sẽ tăng cao từ 0,8 đến 1 m.