Luận văn: Bảo vệ quá áp lan truyền hạ áp khi sét đánh vào đường dây trung áp

Tài liệu nghiên cứu giải pháp bảo vệ quá áp lan truyền trên đường nguồn hạ áp khi sét đánh vào đường dây trung áp và các mô hình mô phỏng liên quan.

Chuyên ngành

Kỹ thuật điện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

92
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bảo vệ quá áp lan truyền do sét

Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa với trung bình khoảng 100 ngày dông mưa mỗi năm, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát sinh và phát triển của dông sét. Quá áp lan truyền do sét là nguyên nhân chủ yếu gây ra các sự cố lưới điện và làm hư hỏng thiết bị. Thống kê cho thấy hơn 70% hư hỏng do sét gây ra là kết quả của sét đánh lan truyền hoặc cảm ứng theo đường cấp nguồn hạ áp. Vấn đề này đặc biệt cấp bách khi các thiết bị điện tử ngày càng phổ biến trong các tòa nhà, công trình viễn thông, truyền hình, công nghiệp. Những thiết bị này vô cùng nhạy cảm với điện áp cao, do đó cần có các giải pháp bảo vệ hiệu quả và chính xác.

1.1. Nguy hại của quá áp sét trên mạng hạ áp

Mạng hạ áp không truyền tải công suất lớn nhưng trải rộng trên diện tích lớn, cung cấp trực tiếp cho các hộ tiêu thụ. Khi sét đánh lan truyền qua máy biến áp, nó gây ngừng dịch vụ, hư hỏng thiết bị, và tổn thất kinh tế không thể đánh giá cụ thể. Các thiết bị điện tử có cách điện dự trữ rất mỏng manh, dễ bị xuyên thủng bởi xung sét cường độ cao.

1.2. Thách thức trong nghiên cứu bảo vệ sét

Do các thiết bị chống sét là thiết bị phi tuyến, việc đánh giá đáp ứng ngõ ra ứng với sóng sét lan truyền bằng giải tích truyền thống gặp nhiều khó khăn. Nước ta còn hạn chế về trang thiết bị thí nghiệm cao áp, làm khó công tác thiết kế và nghiên cứu bảo vệ chống sét tại Việt Nam.

II. Các giải pháp bảo vệ quá áp lan truyền

Để bảo vệ hiệu quả quá áp do sét lan truyền trên đường nguồn hạ áp, cần áp dụng các giải pháp từ cổ điển đến hiện đại. Hiện nay, chống sét trực tiếp đã được quan tâm rộng rãi với nhiều phương pháp khác nhau. Tuy nhiên, trọng tâm phải là bảo vệ sét lan truyền vì đây là nguyên nhân gây 70% thiệt hại. Giải pháp bảo vệ đồng bộ bao gồm lựa chọn, phối hợp các thiết bị bảo vệ phù hợp như chống sét van MOV (Metal Oxide Varistor) trung áp và hạ áp, máy phát xung sét tiêu chuẩn. Việc chế tạo thiết bị chống sét chất lượng cao đóng vai trò rất quan trọng trong hạn chế rủi ro thiệt hại.

2.1. Thiết bị chống sét van MOV Metal Oxide Varistor

Chống sét van MOV là thiết bị phi tuyến được xây dựng mô hình ở mức trung áp và hạ áp. Nguyên lý hoạt động dựa trên tính chất thay đổi điện trở theo điện áp. Khi có quá áp sét, MOV nhanh chóng chuyển tiếp từ trạng thái cách điện sang dẫn điện, giúp hạn chế mức điện áp tới thiết bị bảo vệ và phía hạ lưu.

2.2. Nguồn phát xung sét tiêu chuẩn

Các mô hình xung sét tiêu chuẩn có dạng sóng 8/20µs, 10/350µs và 1/5µs được xây dựng phù hợp với xung sét trong thực tế. Những mô hình này cung cấp cơ sở để mô phỏng và đánh giá hiệu quả hệ thống bảo vệ chống sét lan truyền trên đường nguồn hạ áp.

III. Phương pháp mô hình hóa và mô phỏng

Để đánh giá hiệu quả bảo vệ quá áp sét với độ chính xác cao, phương pháp mô hình hóa và mô phỏng sử dụng phần mềm Matlab, đặc biệt công cụ Simulink và hộp công cụ Sim Power Blokset là giải pháp hiệu quả. Các mô hình được xây dựng phải đạt độ chính xác cao, phù hợp với kết quả thử nghiệm của nhà sản xuất. Mô phỏng cho phép đánh giá đáp ứng của thiết bị chống sét dư khi sét đánh trực tiếp vào đường dây trung áp và lan truyền qua máy biến áp. Phương pháp này khắc phục được những khó khăn từ giải tích truyền thống, cho phép xây dựng mô hình chi tiết với mức tương đồng cao giữa mô phỏng và nguyên mẫu thực tế.

3.1. Công cụ mô phỏng Matlab Simulink

Matlab Simulink cung cấp môi trường mô phỏng mạnh mẽ cho các hệ thống điện phức tạp. Hộp công cụ Sim Power Blokset cho phép mô phỏng chi tiết các thiết bị chống sét van MOV, máy biến áp, và lan truyền xung sét trên mạng điện. Phương pháp này giúp đánh giá đáp ứng ngõ ra với độ chính xác cao.

3.2. Các dạng xung sét tiêu chuẩn trong mô phỏng

Ba dạng xung sét tiêu chuẩn được sử dụng: sóng 8/20µs dùng cho mức điện áp thấp, sóng 10/350µs cho xung sét tự nhiên, và sóng 1/5µs cho sét khoảng không. Mỗi dạng sóng mô tả các đặc trưng khác nhau của sét lan truyền, cung cấp cơ sở để đánh giá toàn diện hiệu quả bảo vệ.

IV. Giá trị thực tiễn và hướng phát triển

Các mô hình xây dựng về bảo vệ quá áp lan truyền sét trên đường nguồn hạ áp cung cấp cơ sở quan trọng cho công tác nghiên cứu đáp ứng của thiết bị chống sét dư và tối ưu hóa hệ thống bảo vệ toàn diện. Điểm mới của các nghiên cứu này là mô hình chống sét van MOV với độ chính xác cao phù hợp kỹ thuật nhà sản xuất, đề xuất phương pháp bảo vệ hiệu quả cho hệ thống chống sét lan truyền. Giá trị thực tiễn bao gồm cung cấp mô hình xung sét tiêu chuẩn và chống sét van cho công tác thiết kế, phục vụ công trình bảo vệ sét cho các tòa nhà, công trình viễn thông, công nghiệp. Những kết quả này tạo nền tảng vững chắc cho tiếp tục nghiên cứu phát triển các giải pháp chống sét lan truyền ngày càng hiệu quả tại Việt Nam.

4.1. Ứng dụng thực tiễn của mô hình bảo vệ sét

Các mô hình chống sét van MOV trung áp và hạ áp được áp dụng trong thiết kế hệ thống bảo vệ cho các công trình viễn thông, truyền hình, công nghiệp. Bảo vệ quá áp lan truyền hiệu quả giúp giảm thiệt hại thiết bị, nâng cao độ tin cậy cung cấp điện, đảm bảo dịch vụ liên tục cho người dùng.

4.2. Hướng phát triển nghiên cứu trong tương lai

Các phương pháp xây dựng mô hình và mô phỏng sét lan truyền qua máy biến áp vẫn tiếp tục được nghiên cứu phát triển. Cần có sự phối hợp giữa mô phỏng số và thí nghiệm thực tế, nâng cao độ chính xác mô hình, phát triển các thiết bị bảo vệ sét chủ động và thông minh.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu. Chương 2: Tổng quan về sét. Chương 3: Mô hình các nguồn phát xung sét tiêu chuẩn. Chương 4: Mô hình chống sét van trung áp và hạ áp.

Chương 5: Biện pháp bảo vệ quá áp phía trung áp và hạ áp khi sét đánh trực tiếp vào đường dây trung áp. Chương 6: Kết luận và hướng nghiên cứu phát triển. Tài liệu tham khảo. HVTH: Đỗ Anh Duy -4- GVHD: PGS, TS Quyền Huy Ánh Luận văn Thạc sỹ CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ SÉT 2.

Sự hình thành mây dông và sét Dông là hiện tượng xảy ra chủ yếu trong mùa hạ liên quan đến sự phát triển mạnh mẽ của đối lưu nhiệt và các nhiễu động khí quyển. Dông đặc trưng bởi sự xuất hiện những đám mây dông hay mây tích vũ (Cumnulonimbus) có độ dày từ 10  16 km, tích trữ một số lượng nước và tạo ra những chênh lệch điện thế cực mạnh. Về bản chất, dông là một hiện tượng khí quyển phức hợp bao gồm sự phóng điện giữa các đám mây (thường gọi là chớp) hay sự phóng điện giữa đám mây và mặt đất (thường gọi là sét) kèm theo gió mạnh và mưa lớn. Thực tế sự hình thành các cơn dông luôn gắn liền với sự xuất hiện của những luồng không khí khổng lồ từ mặt đất bốc lên.

Các luồng không khí này được tạo thành do sự đốt nóng mặt đất bởi ánh sáng mặt trời, đặc biệt ở các vùng cao (dông nhiệt), hoặc do sự gặp nhau của những luồng không khí nóng ẩm với không khí lạnh (dông Front). Sau khi đã đạt được một độ cao nhất định (khoảng vài km trở lên - vùng nhiệt độ âm- Hình 2.1) luồng không khí ẩm này bị lạnh đi, hơi nước ngưng tụ thành những giọt nhỏ li ti - hay các tinh thể băng và chúng tạo thành các đám mây dông. Từ lâu, người ta đã khẳng định về nguồn tạo ra điện trường giữa các mây dông và mặt đất chính là những điện tích tích tụ trên các hạt nước li ti và các tinh thể băng của các đám mây dông đó. Nhưng do đâu có sự nhiễm điện này của hạt nước và các tinh thể băng thì có nhiều giả thuyết khác nhau và chưa được hoàn toàn nhất trí.

Các giả thuyết này cho đến nay đều chưa giải thích được một cách triệt để về nguồn điện tích của các đám mây dông, khiến người ta nghĩ rằng trong thực tế có thể có nhiều nguyên nhân đồng thời tác động và rất phức tạp. Nhưng có một điều chắc chắn là trong suốt cơn dông, các điện tích dương và điện tích âm bị các luồng không khí mãnh liệt làm tách rời nhau gắn liền với sự phân bố các tinh thể băng tuyết trên HVTH: Đỗ Anh Duy -5- GVHD: PGS, TS Quyền Huy Ánh Luận văn Thạc sỹ tầng đỉnh và các giọt nước ở tầng đáy của các đám mây dông. Sự tách rời điện tích này tùy thuộc vào độ cao của các đám mây. Phân bố điện tích trong đám mây dông Qua nhiều lần đo đạt thực nghiệm, người ta thấy rằng khoảng 80  90% phần dưới các đám mây dông chủ yếu chứa điện tích âm, do đó cảm ứng trên mặt đất những điện tích dương tương ứng và tạo nên một tụ điện không khí khổng lồ.

Sự phân bố điện tíchgiữa đám mây dông và mặt đất HVTH: Đỗ Anh Duy -6- GVHD: PGS, TS Quyền Huy Ánh Luận văn Thạc sỹ Hình 2.2 chỉ rõ sự phân bố điện tích trong một đám mây và trên mặt đất. Vật nào trên mặt đất càng cao thì khoảng cách giữa vật và mây càng nhỏ và lớp không khí ngăn cách các điện tích trái dấu càng mỏng. Ở những nơi này sét dễ đánh xuống đất. Khi đến gần nhà cao, cây cao thì mây dông mang điện tích âm hút các điện tích dương, làm cho chúng tập trung lại ở điểm cao nhất: trên mái nhà, ngọn cây .hay còn gọi là hiệu ứng mũi nhọn.

Nếu điện tích mây lớn thì trên mái nhà, ngọn cây. cũng tập trung một điện tích lớn, đến một mức độ nào đó độ lớn của các điện tích trái dấu nói trên sẽ tạo nên một sự chênh lệch điện thế để đánh thủng lớp không khí ngăn cách nó với mặt đất (ở mặt đất trị số này là 25  30 kV/cm), lúc này xảy ra hiện tượng phóng điện giữa đám mây dông và mặt đất. Sét thực chất là một dạng phóng điện tia lửa trong không khí với khoảng cách phóng điện rất lớn. Chiều dài trung bình của khe sét khoảng 3  5km.

Phần lớn chiều dài đó phát triển trong các đám mây dông. Quá trình phóng điện của sét tương tự quá trình phóng điện tia lửa trong điện trường rất không đồng nhất với khoảng cách phóng điện lớn.3 Sự phát triển của sóng điện sét trong đám mây dông HVTH: Đỗ Anh Duy -7- GVHD: PGS, TS Quyền Huy Ánh Luận văn Thạc sỹ 2. Các giai đoạn phát triển của phóng điện sét Ban đầu xuất phát từ mây dông một dải sáng mờ kéo dài từng đợt gián đoạn về phía mặt đất với tốc độ trung bình khoảng 105  106 m/s, đó là giai đoạn phóng điện tiên đạo từng đợt. Kênh tiên đạo là một dòng plasma mật độ điện tích không cao lắm, khoảng 1013 1014 ion/m3.

Một phần điện tích âm của mây dông tràn vào kênh và phân bố tương đối đều dọc theo chiều dài của nó (Hình 2. Thời gian phát triển của kênh tiên đạo mỗi đợt kéo dài trung bình khoảng 1s (như vậy mỗi đợt kênh tiên đạo kéo dài thêm trung bình khoảng vài chục mét). Thời gian tạm ngưng phát triển giữa hai đợt liên tiếp khoảng từ 30  90s. Điện tích âm tổng từ mây tràn vào kênh tiên đạo bằng Q = L ( mật độ điện tích, L là chiều dài kênh).

Điện tích này thường chiếm khoảng 10% lượng điện tích chạy vào đất trong một lần phóng điện sét. Dưới tác dụng của điện trường tạo nên bởi điện tích của mây dông và điện tích trong kênh tiên đạo, sẽ có sự tập trung điện tích trái dấu (thường là điện tích dương) trên vùng mặt đất phía dưới đám mây dông. Nếu vùng đất phía dưới bằng phẳng và có điện dẫn đồng nhất thì nơi điện tích cảm ứng tập trung sẽ nằm trực tiếp dưới kênh tiên đạo. Nếu vùng đất phía dưới có điện dẫn khác nhau thì điện tích sẽ tập trung chủ yếu ở vùng kế cận, nơi có điện dẫn cao như vùng quặng kim loại, vùng đất ẩm, ao hồ, sông ngòi, vùng nước ngầm, kết cấu kim loại các nhà cao tầng, cột điện, cây cao bị ướt trong mưa.

và nơi đó sẽ là nơi đổ bộ của sét. Cường độ điện trường ở đầu kênh tiên đạo trong phần lớn giai đoạn phát triển của nó (trong mây dông) được xác định bởi điện tích bản thân của kênh và của HVTH: Đỗ Anh Duy -8- GVHD: PGS, TS Quyền Huy Ánh Luận văn Thạc sỹ điện tích tích tụ ở đám mây. Đường đi của kênh trong giai đoạn này không phụ thuộc vào tình trạng của mặt đất và các vật thể ở mặt đất. Chỉ khi kênh tiên đạo còn cách mặt đất một độ cao nào đó (độ cao định hướng) thì mới thấy rõ dần ảnh hưởng của tập trung điện tích ở mặt đất và ở các vật thể dẫn điện nhô khỏi mặt đất đối với hướng phát triển tiếp tục của kênh.

Kênh sẽ phát triển theo hướng có cường độ điện trường lớn nhất. Giai đoạn phóng điện tiên đạo b. Tiên đạo đến gần mặt đất hình thành khu vực ion hóa mãnh liệt c. Giai đoạn phóng điện ngược hay phóng điện chủ yếu d.

Phóng điện chủ yếu kết thúc Hình 2. Các giai đoạn phóng điện sét và biến thiên của dòng điện sét theo thời gian Ở những nơi vật dẫn có độ cao (nhà chọc trời, cột ăng ten, đài phát.) thì từ đỉnh của nó nơi điện tích trái dấu tập trung nhiều cũng sẽ đồng thời xuất hiện ion hóa tạo nên dòng tiên đạo phát triển hướng lên đám mây dông. Chiều dài của kênh tiên đạo từ dưới lên mây tăng theo độ cao của vật dẫn và tạo điều kiện dễ dàng cho sự định hướng của sét đánh vào vật dẫn đó. Khi kênh tiên đạo xuất phát từ mây dông tiếp cận mặt đất hay tiếp cận kênh tiên đạo ngược chiều thì bắt đầu giai đoạn phóng điện ngược lại hay phóng điện HVTH: Đỗ Anh Duy -9- GVHD: PGS, TS Quyền Huy Ánh Luận văn Thạc sỹ chủ yếu, tương tự như các quá trình phóng điện ngược trong chất khí ở điện trường không đồng nhất (Hình 2.

Trong khoảng cách khí còn lại giữa đầu kênh tiên đạo và mặt đất (hoặc giữa hai kênh tiên đạo ngược chiều) cường độ điện trường tăng cao gây nên ion hóa mãnh liệt dẫn đến sự hình thành một dòng plasma mật độ điện tích (1016 1019 ion/m3) cao hơn nhiều so với mật độ điện tích của tia tiên đạo, điện dẫn của nó tăng lên hàng trăm lần, điện tích cảm ứng từ mặt đất tràn vào dòng ngược và thực tế đầu dòng mang điện thế của đất làm cho cường độ điện trường đầu dòng tăng lên gây ion hóa mãnh liệt và cứ như vậy dòng plasma điện dẫn cao tiếp tục phát triển ngược lên trên theo đường chọn sẵn của kênh tiên đạo. Tốc độ phát triển của kênh phóng ngược rất cao vào khoảng 0,5.108m/s (bằng 0,05  0,5 vận tốc ánh sáng) tức là nhanh gấp trên trăm lần tốc độ phát triển của tiên đạo hướng xuống. Vì mật độ điện tích cao đốt nóng mãnh liệt nên tia phóng điện chủ yếu sáng chói (gọi là chớp) và sự giãn nở đột ngột của không khí bao quanh phóng điện chủ yếu tạo nên những đợt sóng âm mãnh liệt gây nên những tiếng nổ chát chúa (đó là tiếng sấm). Đặc điểm quan trọng nhất của phóng điện chủ yếu là cường độ dòng điện lớn.

Nếu V là tốc độ của phóng điện,  mật độ điện tích thì dòng điện sét sẽ đạt giá trị cao nhất khi kênh phóng điện chủ yếu lên đến đám mây dông và bằng : is = V (Hình 2. Khi kênh phóng điện chủ yếu lên tới đám mây thì số điện tích còn lại của mây sẽ theo kênh phóng điện chạy xuống đất và cũng tạo nên ở chỗ sét đánh một dòng điện có trị số nhất định giảm nhanh tương ứng với phần đuôi sóng (Hình 2. Kết quả quan trắc sét cho thấy rằng phóng điện sét thường xảy ra nhiều lần kế tục nhau trung bình là 3 lần, nhiều nhất có thể đến vài chục lần (Hình 2. Các lần phóng điện sau có dòng tiên đạo phát triển liên tục (không phải từng đợt như lần đầu), không phân nhánh và theo đúng quĩ đạo của lần đầu nhưng với tốc độ cao hơn (2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ