CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI HÀNH VI QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 1. Khái quát chung về người tiêu dùng và vấn đề bảo vệ người tiêu dùng 1. Khái niệm về người tiêu dùng Trước hết, tiêu dùng được hiểu “là việc sử dụng của cải, vật chất để thỏa mãn các nhu cầu của sản xuất và đời sống”1. Hay hiểu một cách cụ thể hơn, mọi hành vi của con người trong việc sử dụng tài sản của mình để đổi lấy những thứ mình cần (thức ăn, quần áo, nhà cửa…) nhằm phục vụ cho những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống được xem là hành vi tiêu dùng.
Trong đó, tiêu dùng bao gồm hai loại: tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng đời sống. Tiêu dùng sản xuất được tiến hành trong lĩnh vực sản xuất, bao gồm quá trình sản xuất và quá trình liên quan trực tiếp tới sản xuất. Tiêu dùng đời sống là tiêu dùng những tư liệu sinh hoạt bảo đảm cho con người tồn tại và phát triển, sản xuất và tái sản xuất sức lao động như: lương thực, quần áo, nhà ở, đồ dùng. Chính các quan điểm khác nhau về hành vi tiêu dùng nêu trên đã dẫn đến việc khái niệm “người tiêu dùng” cũng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
Cụ thể: Theo nghĩa hẹp: NTD là các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng của mình. Như vậy, NTD bao gồm cả người mua hàng hóa (mua lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, quần áo, thiết bị máy móc, đồ dùng sinh hoạt, phương tiện đi lại…) và người sử dụng dịch vụ (dịch vụ bảo hiểm, vận tải, vui chơi, giải trí, khám chữa bệnh, sửa chữa…). Hiện nay, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của Việt Nam cũng như của nhiều nước, vùng lãnh thổ trên thế giới như Đài Loan, Ấn Độ, Malaysia…đều theo quan điểm này. Ví dụ: Theo Luật Bảo vệ người tiêu dùng Đài Loan ban hành năm 1994, được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2003, 2005 thì “Người tiêu dùng là những người tham 1 Hoàng Phê (2006), Từ điển Tiếng Việt, NXB.
8 gia vào các giao dịch, sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ vì mục đích tiêu dùng”2. Tương tự, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 của Việt Nam cũng quy định“người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”3. Theo nghĩa rộng: NTD ngoài mục đích mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thì còn có thể phục vụ cho mục đích tái sản xuất kinh doanh (mua sản phẩm này để chế biến, sản xuất thành sản phẩm khác, ví dụ như mua vải để may thành quần, áo và mang đi bán). Theo quan điểm này, Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 1979 của Thái Lan ghi nhận “Người tiêu dùng là người mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ của một nhà kinh doanh, kể cả những người được chào hàng hoặc được đề nghị mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ của nhà kinh doanh”4.
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường như hiện nay, với việc xuất hiện ngày càng nhiều loại hình tiêu dùng cũng như sự đa dạng, phong phú về các quan hệ sản xuất mua bán được xem như là quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, đã có một số quan điểm cho rằng nên mở rộng đối tượng và phạm vi của NTD bao gồm cả NTD cho mục đích sinh hoạt và mục đích thương mại bởi lẽ “.giữa NTD cho mục đích kinh doanh có sự cân xứng về kiến thức tiêu dùng so với nhà sản xuất, kinh doanh hơn là NTD cho mục đích sinh hoạt, nhưng chúng ta phải thừa nhận rằng ở mức độ nào họ vẫn bị thiệt hại, mà theo quy định pháp luật dân sự thì bất cứ ai gây thiệt hại cho người khác dù lỗi cố ý hay vô ý đều phải chịu trách nhiệm và phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra.”5 Cũng có quan điểm khác cho rằng“Quy định pháp luật người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức. Song với nghĩa rộng hơn, người tiêu dùng ngoài mục đích mua bán hàng hóa, sử dụng dịch vụ để 2 http://www.vn/Web/Content.aspx?distid=2097&lang=vi-VN, Luật Bảo vệ người tiêu dùng Đài Loan. 3 Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010. 4 Viện Nhà nước và Pháp luật (1999), Tìm hiểu luật bảo vệ người tiêu dùng các nước và vấn đề bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam, NXB.
Lao động, Hà Nội, tr. 5 Dương Thúy Diễm (2009), “Pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu dùng – Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. 9 phục vụ nhu cầu sinh hoạt có thể còn phục vụ cả nhu cầu tái sản xuất, kinh doanh, do đó có thể coi người đang có nhu cầu sử dụng các loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trên thị trường đều là NTD xã hội. Các quan điểm này đã mở rộng phạm vi và đối tượng của NTD, không chỉ bao gồm NTD cho mục đích sinh hoạt mà còn bao gồm cả NTD cho mục đích thương mại.
Tuy nhiên, tác giả cho rằng khái niệm NTD trong pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của Việt Nam chỉ nên quy định theo nghĩa hẹp, tức chỉ bao gồm người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức. Điều này xuất phát từ mục đích ban hành, xây dựng hệ thống pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD nhằm bảo vệ cho bên yếu thế là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ đơn lẻ, phục vụ mục đích sinh hoạt trong mối quan hệ với tổ chức, cá nhân có kinh doanh chuyên nghiệp, nắm nhiều thông tin, kinh nghiệm, lợi thế. Trong khi đó, trường hợp bên mua, bên sử dụng dịch vụ là tổ chức, cá nhân kinh doanh mua, sử dụng hóa dịch vụ nhằm phục vụ cho mục đích thương mại về cơ bản họ không phải là bên yếu thế trong quan hệ với bên bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ. Tuy có sự bất đối xứng thông tin giữa bên bán và bên mua nhưng bên mua, sử dụng hàng hóa trong trường hợp này có bộ máy, có kinh nghiệm, chuyên nghiệp.
Do đó, hoạt động mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ giữa các chủ thể này chỉ nên chịu sự điều chỉnh của pháp luật thương mại, dân sự. Pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD không nên can thiệp quan hệ giữa các thương nhân để đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên. Vấn đề bảo vệ người tiêu dùng 1. Sơ lược về pháp luật bảo vệ người tiêu dùng tại Việt Nam Pháp luật về bảo vệ NTD thế giới nói chung và nước ta nói riêng vẫn còn là một lĩnh vực non trẻ so với lịch sử phát triển lâu đời của pháp luật trong nền kinh tế thị trường.
Bên cạnh đó, do nước ta mới chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong một thời gian chưa dài nên vấn đề bảo vệ quyền lợi 6 Đặng Vũ Huân (2005), “Pháp luật và vấn đề bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số (1), tr.2 10 NTD tương đối mới. Nhìn một cách tổng thể, có thể phân chia sự hình thành và phát triển của lĩnh vực pháp luật này qua những mốc thời gian sau đây: - Giai đoạn trước năm 1986: Trong giai đoạn này, ở Việt Nam hầu như không có một văn bản pháp lý nào liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD. - Giai đoạn từ năm 1986 đến trước năm 1999: các quy định về bảo vệ quyền lợi NTD ở thời kỳ này nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Pháp lệnh đo lường ngày 06/7/1990, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995, Nghị định số 140/HBT ngày 25/4/1991 quy định về kiểm tra, xử lý việc sản xuất, buôn bán hàng giả, Bộ luật Dân sự năm 1995, Luật Thương mại ngày 10/5/1997, Nghị định số 57/CP ngày 31/5/1997 của Chính phủ quy định việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường và chất lượng hàng hóa…Và cũng trong giai đoạn này, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến nước ta, Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định vấn đề bảo vệ NTD. Theo đó, Điều 28 Hiến pháp 1992 quy định “Nhà nước có chính sách bảo vệ quyền lợi của người sản xuất và quyền lợi của người tiêu dùng”.
- Giai đoạn từ năm 1999 đến trước năm 2010: sau nhiều lần biên soạn và lấy ý kiến, ngày 27/4/1999, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD ra đời đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992 về vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD. Sự ra đời của Pháp lệnh này mang ý nghĩa hết sức quan trọng bởi lẽ nó là văn bản pháp lý mang tính tổng hợp đầu tiên, quy định đầy đủ quyền, trách nhiệm của NTD, trách nhiệm của các ngành, các cấp chính quyền; trách nhiệm của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đối với quyền lợi NTD. Về cơ bản, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD đã cụ thể hóa tám quyền cơ bản của NTD mà Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 09/4/1985 đồng thời được Tổ chức Quốc tế Người tiêu dùng (CI) thừa nhận, gồm: quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, quyền được an toàn, quyền được cung cấp thông tin, quyền được lựa chọn, quyền được đại diện, quyền được khiếu nại và 11 bồi thường thiệt hại, quyền được giáo dục về tiêu dùng, quyền được sống trong một môi trường trong sạch và lành mạnh7. - Giai đoạn từ 2010 tới nay: Trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD tỏ ra bất cập, vướng mắc, không tạo ra hành lang pháp lý đầy đủ trong việc bảo vệ quyền lợi của NTD.
Chính vì vậy, ngày 17/11/2010, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Bảo vệ quyền lợi NTD số 59/2010/QH12. Luật này bổ sung nhiều quy định quan trọng như: bảo vệ thông tin của NTD; trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra, hợp đồng giao kết với NTD, điều kiện giao dịch chung. Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Theo quy định của Luật BVQLNTD, việc bảo vệ quyền lợi NTD được thực hiện theo các nguyên tắc sau: Thứ nhất, nguyên tắc “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là trách nhiệm chung của Nhà nước và toàn xã hội”.