Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Giới thiệu sơ lược về cây nghệ 1.1 Nguồn gốc cây nghệ Theo Bose (2008), cây nghệ (Curcuma longa L.) thuộc họ Ging (Zingiberaceae) có nguồn gốc nguyên thủy từ An Độ. Từ xa xưa, cây nghệ đã được trồng ở nhiều nơi trước hết là ở Trung Quốc. Vào thé ki VII đến thế ki VIII, cây nghệ được du nhập sang Đông Phi, đến thé ki XIII sang vùng Tây Phi và thé ki XVIII người dân Jamaica mới tiếp xúc với cây nghệ. Ngày nay, cây nghệ là cây trồng quen thuộc ở khắp các nước vùng nhiệt đới, từ Nam Á đến Đông Nam Á và Đông Á.
Phạm Hoàng Hộ (2000), trong tai liệu Cây cỏ Việt Nam III đã phân loại thực vật có 14 loài nghệ với tên khoa học Curcuma domestica Val. Võ Văn Chi (2003), trong từ điển cây thuốc Việt Nam, cây nghệ thuộc bộ gừng (Zingiberales), họ gừng (Zingiberaceace), chi nghệ (Curcuma), loài nghệ (Curcuma longa L. Theo Ravindran và ctv (2007), cây nghệ có khoảng 110 loài phân bố ở vùng nhiệt đới Châu A. Nhiều loài có giá trị kinh tế cao, trong đó loài Curcuma longa là loài quan trọng nhất.
Theo Đỗ Tất Lợi (2004), nguồn gốc nguyên thủy của cây nghệ ở Ấn Độ, sau này được nhân rộng khắp thế giới nhất là ở các nước nhiệt đới như Việt Nam, Trung Quốc, Indonesia, Lào. Nghệ được trồng ở khắp nơi trong nước ta dé làm gia vị và làm thuốc. Ngày nay, cây nghệ là cây trồng quen thuộc ở nhiều nước như Việt Nam, Trung Quốc, Myanma, Pakistan, Iran, Bangladesk, Dai Loan, Indonesia. Việt Nam với diện tích trồng từ nhỏ lẻ đến qui mô lớn theo trang trại.
Cây nghệ chủ yếu được trồng trong vườn nhà và mục đích thường sử dụng cho tiêu dùng (Ravindran và ctv, 2007). Theo Đỗ Huy Bích (2004), ở Việt Nam cây nghệ được coi là cây trồng cổ ở khắp các địa phương từ vùng đồng bằng, vùng ven biên đến vùng núi cao trên 1500 m. Một số nơi trồng nghệ như huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc, Quảng Binh, Sin Hồ, Phong Thổ (Lai Châu), Quảng Nam va Đăk Nông.2 Yêu cầu điều kiện sinh thái của cây nghệ Cây nghệ được trồng trên các loại đất khác nhau như đất thịt pha cát, tơi xốp và thoát nước tốt, ưu tiên loại đất giàu chất hữu cơ. Đất trồng cây nghệ phải tơi xốp và độ sâu khi trồng ít nhất 15 - 20 cm dé thân rễ nghệ phát triển tốt.
Ngoài ra, cây nghệ có thé trồng trên đất chua (pH 5,0 - 7,5), đất phù sa hoặc đất thịt pha sét (Rai, 2005). Ở Việt Nam, cây nghệ là cây trồng cô ở khắp các địa phương từ đồng bằng ven biển đến vùng núi cao trên 1500 m. Cây nghệ được trồng ở một số nơi thuộc huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vac (Hà Giang), Sin Hồ, Phong Thổ (Trần Thị Lan, 2010). Theo Mai Văn Quyền và ctv (2000), cây nghệ là cây ưa ẩm, ưa sáng và có thé hơi chịu bóng; cây có biên độ sinh thai rộng.
thích nghi được với nhiều vùng khí hậu khác nhau: từ nơi có khí hậu nhiệt đới điển hình, nhiệt độ trung bình đến 25 - 30°C ở các tỉnh phía Nam (không có mùa đông lạnh) đến nơi có khí hậu cận nhiệt đới núi cao phía Bắc nhiệt độ trung bình dưới 20°C, với mùa đông lạnh kéo dài cây nghệ vẫn tồn tại và sinh trưởng phát triển tốt. Toàn bộ phần trên mặt đất tàn lụi vào mùa đông ở các tỉnh phía Bắc và mùa khô ở các tỉnh phía Nam. Cây nghệ mọc lại vào giữa mùa xuân, có hoa sau khi đã ra lá. Cây nghệ thường được thu hoạch từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, khi thu hoạch nghệ thì cắt bỏ hết phần rễ và đề riêng, phần thân rễ để riêng.
Củ nghệ muốn bảo quản được lâu phải hấp trong 6 - 12 giờ, sau đó đợi ráo nước, đem phơi nắng hoặc say khô (Đỗ Tắt Lợi, 2004).2 Sơ lược tình hình sản xuất và tiêu thụ nghệ Cây nghệ đỏ được trồng ở một số nước châu Á như: Án Độ, Trung Quốc, Mianma, Syrilanca, Thái Lan, Campuchia. An Độ và Trung Quốc là hai nước có diện tích và sản lượng nghệ đỏ lớn nhất thé giới. Ở An Độ, diện tích trồng nghệ đỏ 1,49 triệu ha và sản lượng nghệ đỏ đạt 5,7 triệu tắn/năm. Ấn Độ là nước sản xuất nghệ lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 90% tổng diện tích trồng nghệ của thé giới.
Trung Quốc, Myanmar, Nigieria, Bangladesh, Pakistan, Sri Lanka, Đài Loan, Indonesia chiếm 10% diện tích canh tác còn lại. Năm 2007 — 2008, năng suất trồng nghệ của An Độ là 794.000 tan trên tổng diện tích là 175. Các quốc gia xuất khâu nghệ chủ yếu là An Độ, Trung Quốc, Myanma va Bangladesh. Các quốc gia và vũng lãnh thô nhập khâu nghệ lớn bao gồm: Trung Quốc, Bắc Phi, Iran, Nhật Bản, Mỹ (Lal, 2012).
Theo Maseresh (2010), tong sản lượng cây nghệ dùng làm gia vị ở các khu vực của Oromia và khu vực Amhara là 89.300 tắn/năm; chiếm 64%, 25% và 11% trong tong số sản xuất gia vị trong nước. Ở Ethiopia, cây nghệ được dùng làm gia vi xuất khẩu với tỷ trọng cao nhất 64,9% so với cây gừng chiếm 15,4% và cây thì là chiếm 8,4%. Ở Bangladesh, cây nghệ là cây gia vị phố biến với sản lượng 41.500 tắn/năm và năng suất nghệ khô trung bình đạt 2,26 tan/ha (Bangladesh Bureau of Statistics, 2006). Ở phía tây Nam Ethiopia, cây nghệ chủ yếu được xuất khẩu ở dạng khô và một ít ở dạng nhựa dầu hoặc chiết xuất tinh dầu, năng suất củ nghệ đạt 2,4 tan/ha năm 2012.
Năm 2013, cây nghệ chiếm 8% (2,1 triệu USD) tổng kim ngạch xuất khâu gia (Addisu, 2014). Theo Nair (1964), cây nghệ (Curcuma longa L.) được trồng ở Uttarakhand với diện tích 9.000 ha đạt sản lượng hàng năm là 1. Ở Uttarakhand, diện tích trồng cây nghệ đứng thứ 5 sau diện tích trồng ớt, thì là, rau mùi, nghệ đỏ và tiêu nhưng về sản lượng cây nghệ đạt thứ 3 sau cây ớt và cây tỏi. Theo Srivastava (2015), An Độ là nước san xuất và xuất khâu nghệ hàng đầu thế giới.
Andhra Pradesh, Tamil Nadu, Orissa, Karnataka, Tây Bengal, GuJarat, Meghalaya, Maharashtra, Assam là một số bang quan trong trồng nghệ, trong đó, riêng Andhra Pradesh chiếm 38,0% diện tích và 58,5% sản lượng. Trong giai đoạn 2013 — 2014, nước sản xuất 12,29 vạn tan nghệ từ diện tích 2,34 vạn ha. Về nghiên cứu được lý của nghệ đỏ một số nhà khoa học đã nghiên cứu rất sâu về hàm lượng tinh chất Curcumin trong nghệ nhưng có rất ít công trình nghiên cứu đề cập quy trình bón phân và chọn giống nghệ. Một số thông tin về tình hình canh tác nghệ vàng hiện nay của một số tỉnh, địa phương.
Ngoài ra cây nghệ đang là thế mạnh cho việc trồng xen với cây lâu năm hoặc trồng dưới tán rừng.3 Vai trò của cây nghệ Ở Việt Nam, cây nghệ được trồng phổ biến dé lấy củ, chủ yếu sử dụng trong chế biến thực phẩm và chữa một số bệnh theo kinh nghiệm truyền thống (Đỗ Tất Lợi, 2004). Thành phan chính trong nghệ là curcumin, một hoạt chất có tác dụng kích thích tế bào gan tiết mật và tăng co bóp túi mật, tống mật, phá cholesterol ở thành mạch. Tinh dầu có tác dụng diệt vi sinh vật, tiêu viêm, ức chế kết tập tiểu cầu, khử gốc tự do chống oxy hóa. Gần đây tìm thay thêm nhiều chat trong củ nghệ có tác dụng đối với một số bệnh ung thư (Itokawa và ctv, 2008).
Theo Hailemichael (2008), hoạt chất curcumin trong củ nghệ đỏ (3 — 5%) có giá trị tạo màu cho thực phẩm, giàu khoáng chất như phốt pho, canxi, sắt và vitamin A. Ngoài ra, tinh bột nghệ đỏ còn được sử dụng trong ngành dệt may ở Ethiopia. Bên cạnh đó, tinh bột nghệ do chứa khoảng 69,4% carbohydrate; 6,3% protein; 5,1% dau; 3,5% khoáng chất và các nguyên tố quan trọng khác. Tinh bột nghệ đỏ là một loại gia vị có chứa một lượng đáng kể protein (6,3%), lipid (5,1%), carbohydrate (69,4%) và chất xơ (2,6%).
Theo tài liệu Cây thuốc Việt Nam của Đỗ Tắt Lợi (2004), nghệ có tác dụng tăng khả năng giải độc của gan. Chang hạn, đối với bệnh nhân bị bệnh galactoza niệu sau khi uống thuốc có nghệ 10 ngày thì lượng galactoza giảm xuống. Theo Lal (2012), thành phần dinh dưỡng có trong 100 g nghệ được trình bay ở Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng có trong 100 g củ nghệ tươi Thanh phần GiAt{didh đường TUYẾN si SỬ dựng 7 ngày (% theo RDA) Năng lượng 354 Keal 17% Carbohydrates 64,9 g 50% Protein 7,83 g 14% Chat béo tong hop 9,88 g 33% Cholesterol 0 mg 0 Chat xo 21,02 52,5% Vitamin B9 39,0 ug 10% Vitamin B3 5,14 mg 32% Vitamin B6 1,80 mg 138% Vitamin B2 0,23 mg 18% Vitamin C 25,9 mg 43% Vitamin E 3,10 mg 21% Vitamin K 13,4 ug 11% Natri 2525mg 2,5% Kali 183 mg 54% Canxi 183 mg 18% Đồng 603 ug 67% Sắt 41,42 mg 517% Magie 193 mg 48% Mangan 7,83 mg 340% Photpho 268 mg 38% Kém 4,35 mg 39.5% Theo Ishimine và ctv (2003), cây nghệ được sử dụng trong nhiều nước như một loại gia vị và mỹ phâm. Hoạt chất curcumin chính trong thành phan của nghệ có chức năng như một loại thuốc chống viêm, thuốc chống ung thư, chống khối u, chống vi khuẩn, chống oxy hóa, chống nam, đặc tinh chống ký sinh trùng và giải độc (Hermamn, 199]).
Theo Ellis (1956), hoạt chat curcumin trong thành phần củ nghệ có tác dụng kháng sinh, ngăn can sự phát triển của vi trùng lao Mycobacterium và có hiệu lực đối với Salmonella paratyphi, Staphyllococus aureus, nấm Trychophyton gypcum. Ngoài ra, các xeton œ-B etylenic trong củ nghệ có kha năng khóa nhóm -SH của men, làm rối loạn chuyên hóa của men trong cơ thể vi trùng nói chung và vi trùng lao Mycobacterium tuberculosis nói riêng.4 Ảnh hưởng của phân bón hữu cơ đến sinh trưởng và năng suất cây nghệ Phân hữu cơ ngoài khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, trong thành phần có chứa các yếu tố đinh dưỡng từ đa lượng đến vi lượng, còn có vai trò điều hòa dinh dưỡng trong đất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thâm canh cây trồng và duy trì độ phì nhiêu đất. Theo Đường Hồng Dat (2002), hàm lượng lân dễ tiêu của đất tăng khi bón phân hữu cơ. Chat hữu cơ có vai trò quan trọng trong việc điều hòa dinh dưỡng không chỉ với lân mà ngay cả với sắt.
Dat mat chất hữu cơ trở nên cứng do đó khả năng giữ nước, thấm nước kém. Chất hữu cơ đóng vai trò quan trọng trong việc giữ nguồn đinh dưỡng, giảm rửa trôi, phân giải mùn, giải phóng dinh dưỡng dễ tiêu cho cây trồng, tăng lân dé tiêu, tăng các hợp chất hữu cơ với N, P, Fe.