Chương 1 cũng đồng thời xác định đối tượng nghiên cứu mà đề tài hướng đến là các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện TNXH của các doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó, chương giới thiệu phạm vi nghiên cứu đề tài trong bộ dữ liệu điều tra mở rộng năng lực cạnh tranh và công nghệ (TCS) và bộ điều tra doanh nghiệp thường niên (VES) năm 2013, 2014 và phương pháp nghiên cứu được sử dụng là thống kê mô tả và phân tích định lượng. Từ đó, chương rút ra giá trị kỳ vọng về mặt khoa học và thực tiễn mà đề tài dự kiến sẽ mang lại. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẶC ĐIỂM DOANH NGHIỆP ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN TNXH 2.1 Tổng quan lý thuyết về TNXH của doanh nghiệp 2.1 Khái niệm và lợi ích khi thực hiện TNXH 2.1 Khái niệm TNXH Trong thời đại hiện nay, thuật ngữ TNXH đang được nhắc đến rất nhiều từ các doanh nghiệp và thậm chí xuất hiện trong nhận thức của nhân dân và người lao động.
Tuy nhiên không phải ai cũng biết đến sự ra đời và phát triển của nó. Khái niệm TNXH đã kéo dài trong một khoảng thời gian rất lâu với sự xuất hiện lần đầu từ thế kỷ XIX và dần hoàn thiện vào thế kỷ XX, nó liên tục thu hút mối quan tâm bàn luận từ các doanh nghiệp, tuy nhiên TNXH vẫn tồn tại dưới dạng định nghĩa và nhiều khái niệm khác nhau. Theo quan điểm lịch sử, TNXH của doanh nghiệp không được coi là một vấn đề quan trọng từ thời Adam Smith cho đến cuộc Đại suy thoái trong những năm 1930 và 1940 (Moon và Parc, 2019). Nhưng sau đó, việc công bố thông tin về TNXH đã trở thành sự lựa chọn tích cực của nhiều doanh nghiệp (Zhang và các cộng sự, 2019).
Thực hiện TNXH là làm sao để tối đa hóa lợi nhuận và tăng giá trị doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh một cách trung thực và công bằng. TNXH thuộc về Nhà nước, nên người chủ doanh nghiệp chỉ nên thực hiện các TNXH mà họ mong muốn khi đã có sự thông qua của các cổ đông (Friedman, 1970). Tuy nhiên, ngày càng nhiều doanh nghiệp cổ xúy quan điểm rằng một công ty không thể hoạt động tốt nếu nó chỉ tối đa hóa lợi nhuận mà còn phải có nghĩa vụ đối với các bên liên quan và xa hơn nữa, đó là trách nhiệm với xã hội (EIC, 2005). Cụ thể hơn vào năm 1973, TNXH là sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ (Keith Davis, 1973).
Tiếp sau đó một thời gian, năm 1999 tồn tại cái nhìn khác về khái niệm TNXH, theo đó TNXH là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi ở doanh nghiệp trong mỗi thời điểm nhất định (Carroll, 1999). Bên cạnh những nhận định từ phía các nhà nghiên cứu hay cá nhân thì các tổ chức và hiệp hội thế giới cũng đưa ra khái niệm về TNXH, có thể kể đến như Hội đồng các doanh nghiệp quốc tế vì phát triển bền vững (WBCSD). Theo đó, TNXH là một cam kết kinh doanh nhằm cư xử một cách có đạo đức và góp phần cho sự phát triển kinh tế cùng với việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động và gia đình của họ cũng như chất lượng cuộc sống của cộng đồng và xã hội nói chung (WBCSD, 2001). 7 Đây chỉ là một số nhỏ trong những định nghĩa và khái niệm về TNXH từng được đề xuất, dù có nhiều khái niệm về TNXH khác nhau song nhìn chung ta có thể dễ dàng nhận thấy trong mô hình hệ thống cấp bậc TNXH: một phần quan trọng trong trách nhiệm cơ bản của doanh nghiệp đó chính là tuân thủ các yêu cầu pháp lý có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp.
Nếu doanh nghiệp không tuân các quy định của pháp luật, tức là họ đã vi phạm pháp luật và như vậy đã không thực hiện được TNXH (Carroll, 1999). Mặc dù vậy, trên thế giới và ngay tại Việt Nam hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về TNXH và các ý nghĩa của việc thực hiện TNXH đối với một ngành hoặc một công ty cụ thể. Khi cạnh tranh thương trường ngày càng khốc liệt, những yêu cầu, đòi hỏi của các bên liên quan càng được đẩy lên cao, do vậy xã hội có cái nhìn ngày càng khắt khe hơn đối với doanh nghiệp về bổn phận, trách nhiệm trước cộng đồng và xã hội. Các doanh nghiệp muốn phát triển bền vững luôn phải tuân thủ những chuẩn mực về sản xuất, kinh doanh có lợi nhuận, thậm chí siêu lợi nhuận, bên cạnh đó còn có cả những chuẩn mực về bảo vệ môi trường thiên nhiên, môi trường lao động, về thực hiện bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi người lao động, quyền lợi về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, góp phần phát triển cộng đồng, bao hàm cả các việc thực hiện an sinh xã hội như nhân đạo, từ thiện,… Sự xuất hiện nhiều định nghĩa và khái niệm khác nhau về TNXH có thể bắt nguồn bởi nhiều yếu tố khách quan như khó khăn, sự khác biệt trong nghiên cứu hay cũng có thể do các thuật ngữ như phát triển bền vững, hiệu suất xã hội; doanh nghiệp xã hội làm mờ ranh giới với khái niệm TNXH (Crane, 2008).
Nhưng chung quy lại, đề tài cho rằng, TNXH là một khái niệm chùm bao gồm nhiều khái niệm khác như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi trường. Đó là một khái niệm động và luôn được thử thách trong bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù (Matten và Moon, 2004). Thực hiện TNXH của doanh nghiệp vừa mang tính bắt buộc vừa mang tính tự nguyện trong đó tính tự nguyện được coi là yếu tố cơ bản bởi TNXH không thể cổ động, hô hào để đánh bóng thương hiệu hay tô vẽ hình thức bề ngoài, cũng không chỉ đơn thuần là việc thực hiện những hoạt động từ thiện của doanh nghiệp, trong khi ngay tại nội bộ doanh nghiệp vẫn còn những biểu hiện vi phạm pháp luật, ứng xử thiếu văn hóa. Và nghiên cứu này sẽ đo lường những ảnh hưởng cả bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp tác động đến việc thực hiện TNXH tại Việt Nam.2 Lợi ích thực hiện TNXH Lợi ích của việc thực hiện TNXH đã được nhiều nhà nghiên cứu cũng như chuyên gia nhận định và cụ thể TNXH là đạt được những lợi ích cốt yếu để có được sự bền vững 8 (Tsoutsoura, 2004).
Vì lợi ích mà nó mang đến nên các doanh nghiệp cũng như Nhà nước nên định hướng, tạo điều kiện và giúp các doanh nghiệp có thể xây dựng và phát triển trên lộ trình có thực hiện TNXH nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và ổn định. Bên cạnh đó một số lợi ích hữu hình và vô hình từ TNXH đã được xác định bởi các nhà nghiên cứu (Jenkins, 2006; Grayson và Hodges, 2004; Greening và Turban, 2000; Orlitzky và cộng sự, 2003). Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cho rằng động lực của nhân viên, và cải thiện hình ảnh công ty có thể là những lợi ích nổi bật của TNXH đem lại. Nhiều lợi ích của TNXH đã được xác định.
Cụ thể có thể kể đến như: Thứ nhất, gia tăng quá trình hợp tác cũng như các hợp đồng quốc tế (Jenkins, 2006). Hình ảnh thương hiệu và uy tín của các công ty thực hiện các hoạt động TNXH thì cao hơn so với các công ty không thực hiện TNXH (Tsoutsoura, 2004). Đặc biệt trong quá trình hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam nếu muốn có một chỗ đứng và được sự quan tâm từ các doanh nghiệp quốc tế thì yếu tố TNXH chính là giải pháp bởi nếu muốn toàn cầu hóa phải hình thành những giá trị, bộ quy tắc, chuẩn mực được cộng đồng quốc tế đón nhận. Có thể nói, những yêu cầu khắt khe của các tập đoàn đa quốc gia về TNXH của doanh nghiệp đã gây nên sức ép to lớn khiến cho các doanh nghiệp tại Việt Nam thật sự phải lưu tâm đến và lao vào cuộc chơi mang tên TNXH mới có hi vọng và cơ hội để hướng mình tới thị trường toàn cầu hay ít nhất là không bị đào thải khỏi thị trường bởi những yêu cầu cơ bản của một doanh nghiệp.
Đề tài nghiên cứu “TNXH của doanh nghiệp FDI trong chiến lược kinh doanh - thực tiễn tại Việt Nam và một số đề xuất” của Nguyễn Hợp Châu (2018) cũng chỉ ra mối quan hệ thuận chiều giữa việc thực hiện TNXH với 3 mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp nhận đầu tư nước ngoài (FDI), trong đó bao gồm danh tiếng doanh nghiệp - yếu tố được coi là trung gian nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Hoàng Hải Yến, 2016). Thứ hai, thực hiện TNXH sẽ dẫn đến tăng năng suất (Tsoutsoura, 2004). Ví dụ, hiệu quả tăng năng suất từ việc cải thiện điều kiện làm việc và thực hành lao động (Tsoutsoura, 2004). Thông qua chu trình học tập và đổi mới của doanh nghiệp còn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm cải thiện 5 nhóm yếu tố: (1) Hiệu quả hoạt động tài chính, (2) Chất lượng dịch vụ/sản phẩm, (3) Hiệu suất hoạt động, (4) Đổi mới chu trình sản xuất, (5) Danh tiếng của doanh nghiệp.
Một trong những yếu tố cốt lõi của việc tăng năng suất không chỉ quyết định bởi máy móc mà phụ thuộc lớn vào yếu tố lao động, hay giá trị con người (Vilanova và cộng sự 2009). Việc thực hành TNXH là thu hút được nhân viên tiềm năng và giữ được nhân viên tài năng. Thực tế cho thấy những người giỏi, 9 có uy tín thường chọn những nơi làm việc mà họ cảm thấy là có ích cho xã hội và con người. Việc doanh nghiệp có cho mình một đội ngũ nhân viên giỏi đã là việc khó nhưng việc giữ nhân viên giỏi tiếp tục cống hiến cho doanh nghiệp còn là một việc khó hơn, do đó thực hiện TNXH và tạo điều kiện xứng đáng, thích hợp như trả lương thỏa đáng và công bằng, tạo cho nhân viên cơ hội đào tạo, thăng tiến, ghi nhận sự sáng tạo của nhân viên, đóng bảo hiểm y tế đầy đủ và môi trường làm việc thân thiện,… sẽ có khả năng thu hút và giữ được nhân viên tốt.