Chương 1: CHẤT LƯỢNG BỀ MẶT CHI TIÉT MÁY Chất lượng sản phẩm là một chỉ tiêu quan trọng phải đặc biệt quan tâm khi chuẩn bị công nghệ chế tạo sản phẩm, nó có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng làm việc của chi tiết máy. Chất lượng sản phẩm trong nghành chế tạo máy bao gồm chất lượng chế tạo chi tiết và chất lượng của các chi tiết lắp ghép với nhau thành sản phẩm hoàn chỉnh. Đối với các chi tiết máy thì chất lượng chế tạo chúng được đánh giá bằng các thông số sau đây: - Độ chính xác về kích thước các bề mặt. - Độ chính xác về hình dáng các bề mặt.
- Độ chính xác về vị trí tương quan các bề mặt. - Chất lượng bề mặt. CÁC YẾU TỐ ĐẶC TRƯNG CỦA CHẤT LƯỢNG BỀ MẶT. Khả năng làm việc của chi tiết máy phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của lớp bề mặt.
Các yếu tố đặc trưng cho chất lượng bề mặt chi tiết máy bao gồm: -Hình dáng lớp bề mặt (độ sóng, độ nhám. -Trạng thái và tính chất cơ lý lớp bề mặt (độ cứng, chiều sâu lớp biến cứng, ứng suất dư. -Phản ứng của lớp bề mặt đối với môi trường làm việc (tính chống mòn, khả năng chống xâm thực hoá học, độ bền mỏi. -Chất lượng bề mặt chi tiết máy phụ thuộc vào phương pháp và điều kiện gia công cụ thể.
Chất lượng bề mặt là mục tiêu chủ yếu cần đạt được ở bước gia công tinh của các chi tiết máy. Lớp bề mặt chi tiết máy khác với lớp lõi về cấu trúc của kim loại, về tính chất cắt gọt và trạng thái biến cứng. Nguyên nhân chính của sự khác nhau là sự biến dạng dẻo lớp bề mặt. Mức độ và chiều sâu của lớp biên cứng phụ thuộc vào lực cắt và nhiệt cắt.
Nguyễn Thái Hà 12 Luận văn Thạc sĩ Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Vinh Khoa Cơ Khí Chế Tạo 1. Chất lượng hình học của bề mặt gia công Bề mặt sau khi gia công không bằng phẳng một cách lý tưởng mà có những nhấp mô. Những nhấp mô này là do qúa trình biến dạng dẻo của bề mặt chi tiết khi gia công cắt gọt và vết lưỡi cắt để lại trên bề mặt gia công, là ảnh hưởng của chấn động khi cắt và nhiều nguyên nhân khác. Không phải tất cả các nhấp nhô trên bề mặt đều là nhám bề mặt, mà nó là tập hợp những nhấp nhô có bước tương đối nhỏ và được xét trong giới hạn dài chuẩn (hình 1.
-Những nhấp nhô có tỷ số giữa bước nhấp nhô (p) và chiều dài nhấp nhô (h) bé hơn hoặc bằng 50 (p/h ≤ 50) thì thuộc về nhám bề mặt. -Những nhấp nhô mà (50<p/h ≤ 1000) thuộc về sóng bề mặt. -Những nhấp nhô mà (1000<p/h) thuộc về sai lệch hình dạng. -Nhám bề mặt là một thông số hình học có ảnh hưởng lớn đến chất lượng sử dụng của chi tiết máy.
Các yếu tố hình học của lớp bề mặt h1 : Sai lệch hình dạng h2 : Sóng bề mặt h3 : Độ nhám bề mặt a) Độ nhấp nhô tế vi: Theo tiêu chuẩn TCVN2511-95, để đánh giá độ nhám người ta sử dụng hai chỉ tiêu : Nguyễn Thái Hà 13 Luận văn Thạc sĩ Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Vinh Khoa Cơ Khí Chế Tạo Hình 1. Các chỉ tiêu đánh giá độ nhám bề mặt - Sai lệch số học trung bình của prôfin, Ra : là trị số số học trung bình của các giá trị tuyệt đối của sai lệch prôfin trong giới hạn chiều dài chuẩn. Sai lệch prôfin là khoảng cách từ điểm trên prôfin thực đến đường trung bình, đo theo phương pháp tuyến với đường trung bình. Đường trung bình của (m) là đường chia prôfin theo hai phần có có diện tích giới hạn (phần gạch đứng) bằng nhau.2) - Chiều cao nhấp nhô prôfin theo 10 điểm, RZ : là trị số trung bình của tổng các giá trị tuyệt đối của chiều cao 5 đỉnh cao nhất và chiều sâu 5 đáy thấp nhất của prôfin trong giới hạn chiều dài chuẩn.
Rz được sử dụng khi độ nhám quá lớn hoặc quá nhỏ.3) 5 Tiêu chuẩn TCVN2511-95 cũng đưa ra 14 cấp nhẵn bóng với giá trị tương ứng của Rz, Ra và chiều dài đo chuẩn như (bảng 1. Trong đó Tiêu chuẩn cũng khuyến cáo, đối với các bề mặt quá nhám hoặc quá nhẵn thì nên ghi độ nhám theo Rz còn các bề mặt có độ nhám trung bình thì nên ghi theo Ra. Cụ thể là các cấp nhẵn từ cấp 1 đến cấp 5 và cấp 13, 14 thì ghi theo Rz còn các cấp 6 đến 12 thì ghi theo Ra. Nguyễn Thái Hà 14 Luận văn Thạc sĩ Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Vinh Khoa Cơ Khí Chế Tạo Ngoài hai chỉ tiêu quan trọng là Rz và Ra, Tiêu chuẩn còn đưa ra chỉ tiêu Rmax (là chiều cao nhấp nhô lớn nhất trong chiều dài xét) để đánh giá các bề mặt làm việc quan trọng.
Độ sóng bề mặt là chu kỳ không bằng phẳng của bề mặt chi tiết máy được quan sát trong phạm vi lớn hơn độ nhám bề mặt (từ 1 đến 10 mm). Độ sóng bề mặt thường xuất hiện khi gia công có rung động của hệ thống công nghệ, quá trình cắt không liên tục, dụng cụ cắt bị đảo. Thông thường độ sóng xuất hiện khi gia công chi tiết có kích thước lớn và trung bình bằng các phương pháp tiện, phay và mài.1 Cấp độ nhẵn bóng theo TCVN 2511-95 1. Tính chất cơ lý của lớp bề mặt gia công Tính chất cơ lý được biểu thị bằng độ cứng bề mặt, sự biến đổi cấu trúc tinh thể lớp bề mặt, chiều sâu lớp biến cứng bề mặt.
Nguyễn Thái Hà 15 Luận văn Thạc sĩ Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Vinh Khoa Cơ Khí Chế Tạo a) Hiện tượng biến cứng lớp bề mặt. Trong quá trình gia công dưới tác dụng của lực cắt làm xô lệch mạng tinh thể của kim loại lớp bề mặt, gây biến dạng dẻo ở vùng trước và sau lưỡi cắt. Phoi kim loại được tạo ra do biến dạng dẻo của các hạt kim loại trong vùng trượt. Giữa các hạt tinh thể kim loại xuất hiện ứng suất.
Thể tích riêng và mật độ kim loại giảm ở vùng cắt. Giới hạn bền, độ cứng, độ giòn của lớp bề mặt được nâng cao. Đồng thời tính dẫn từ của lớp bề mặt cũng thay đổi. Nhiều tính chất khác của lớp bề mặt cũng thay đổi.
Kết quả tổng hợp là lớp bề mặt bị cứng nguội, chắc lại và có độ cứng tế vi cao. Mức độ biến cứng, chiều sâu lớp biến cứng phụ thuộc vào tác dụng của lực cắt, mức độ biến dạng dẻo của kim loại và ảnh hưởng nhiệt trong vùng cắt. Lực cắt tăng làm tăng mức độ biến dạng dẻo làm tăng mức độ biến cứng và chiều sâu lớp biến cứng của bề mặt. Nhiệt cắt hạn chế hiện tượng biến cứng bề mặt.
Như vậy mức độ biến cứng của lớp bề mặt phụ thuộc vào tỷ lệ tác động của hai yếu tố lực cắt và nhiệt sinh ra trong vùng cắt. b) Ứng suất dư trong lớp bề mặt Khi gia công trong lớp bề mặt chi tiết xuất hiện ứng suất dư. Trị số, dấu và chiều sâu phân bố của ứng suất dư trong lớp bề mặt phụ thuộc vào điều kiện gia công cụ thể. Các nguyên nhân chính gây ra ứng suất dư trong lớp bề mặt gia công bao gồm : - Khi cắt một lớp mỏng vật liệu trường lực gây ra biến dạng dẻo không đều ở từng khu vực trong lớp bề mặt.
Khi trường lực mất đi, biến dạng dẻo gây ra ứng suất dư trong lớp bề mặt. - Biến dạng dẻo khi cắt làm chắc lớp kim loại bề mặt, làm tăng thể tích lớp kim loại mỏng ở ngoài cùng. Lớp kim loại bên trong do không biến dạng dẻo nên vẫn giữ được thể tích bình thường. Lớp kim loại bên ngoài có xu hướng tăng thể tích nhưng không tăng được nên gây ra ứng suất nén, để cân bằng lớp bên trong gây ra ứng suất kéo.
- Nhiệt sinh ra tại vùng cắt nung nóng cục bộ lớp bề mặt, làm giảm môđun đàn hồi của vật liệu. Sau khi cắt lớp bề mặt nguội nhanh, co lại gây ra ứng suất dư kéo, để Nguyễn Thái Hà 16 Luận văn Thạc sĩ Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Vinh Khoa Cơ Khí Chế Tạo cân bằng lớp trong gây ra ứng suất dư nén. - Kim loại chuyển pha và nhiệt cắt làm thay đổi cấu trúc lớp kim loại bề mặt, dẫn đến sự thay đổi về thể tích của kim loại. Lớp kim loại nào hình thành cấu trúc có thể tích riêng lớn sẽ sinh ra ứng suất dư nén, lớp kim loại nào hình thành cấu trúc có thể tích riêng nhỏ sẽ sinh ra ứng suất dư kéo.
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỀ MẶT CHI TIẾT Trạng thái và tính chất bề mặt chi tiết máy trong quá trình gia công do nhiều yếu tố công nghệ quyết định. Tính chất cơ lý của lớp bề mặt chi tiết máy bị thay đổi dưới tác dụng của lực cắt và nhiệt sinh ra trong vùng cắt. Ở các phương pháp cắt gọt (tiện, phay, khoan,. ) thì tác động của lực cắt đối với tính chất cơ lý của lớp bề mặt thường mạnh hơn tác động của nhiệt cắt.
Khi mài thì tác động của nhiệt cắt đến tính chất cơ lý của lớp bề mặt mạnh hơn nhiệt cắt. Đối với các phương pháp gia công biến dạng dẻo thì có hiện tượng thoát cacbon ở lớp bề mặt. Nói chung, quá trình hình thành tính chất hình học và cơ lý của lớp bề mặt rất phức tạp. Sau đây chỉ xét các yếu tố cơ bản nhất.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến độ nhám bề mặt a) Ảnh hưởng của các yếu tố hình học của dụng cụ cắt và chế độ cắt.
Mối quan hệ giữa các thông số hình học của dụng cụ cắt và chế độ cắt đối với chất lượng bề mặt chi tiết máy đã được nhiều tài liệu đề cập đến. Người ta đã xác định được ảnh hưởng của lượng tiến dao S, bán kinh mũi dao r, chiều dày phôi nhỏ nhất hmin đến độ nhám bề mặt bằng các công thức quan hệ (1.15 mm/vg thì: Rz = (1.1 mm/vg thì: Rz= + 1+ (1.5) Từ công thức quan hệ (1.5) ta thấy rằng khi S tăng thì giá trị Rz sẽ tăng ; khi bán kính mũi dao tăng thì Rz giảm. Quan hệ này được chỉ ra một cách trực quan ở (hình 1. Nguyễn Thái Hà 17 Luận văn Thạc sĩ Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Vinh Khoa Cơ Khí Chế Tạo (Hình 1.3) đường cong 1 biểu diến mối quan hệ tổng quát giữa Rz, S và r, cụ thể là trong phạm vi giá trị lượng chạy dao S > 0,15 mm/vòng.