CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP LÀ HÀNG HÓA LUÂN CHUYỂN TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH 1. Khái quát về hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh 1. Khái niệm về hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh Khái niệm hàng hóa luân chuyển trong sản xuất kinh doanh (“hàng hóa luân chuyển”) là sự kết hợp của hai khái niệm hàng hóa và luân chuyển. Trước tiên, về khái niệm hàng hóa, theo Từ điển tiếng Việt, hàng hóa là sản phẩm do lao động làm ra được mua bán trên thị trường1.
Theo kinh tế chính trị Marx-Lenin, hàng hóa được định nghĩa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán.2 Về khái niệm luân chuyển, theo từ điển tiếng việt, luân chuyển là lần lượt tiếp nối hay chuyển cho nhau để cuối cùng quay trở lại, thành một hay nhiều vòng.3 Như vậy, có thể hiểu luân chuyển là dịch chuyển luân phiên, không cố định. Kết hợp hai khái niệm trên, có thể hiểu rằng hàng hóa luân chuyển trong quá trình SXKD là những sản phẩm do lao động làm ra để trao đổi, mua bán, ngoài ra do có tính chất luân chuyển nên những hàng hóa này sẽ thay đổi, dịch chuyển luân phiên, không cố định trong quá trình SXKD. Quá trình kinh doanh gồm quá trình cung cấp (mua các yếu tố đầu vào bao gồm sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động); quá trình sản xuất (ba yếu tố đầu vào kết hợp với nhau để tạo ra giá trị, tạo ra sản phẩm, hàng hoá đáp ứng nhu cầu của xã hội); và quá trình bán hàng (thực hiện giá trị của sản phẩm, hàng hoá trên thị trường để thu hồi vốn bỏ ra đồng thời tạo ra lợi nhuận. Thông qua quá trình kinh doanh, có thể chia hàng hóa thành nguyên vật liệu để sản xuất, sản phẩm dang dở trong quá trình sản xuất, sản phẩm hoàn chỉnh để bán ra thị trường.
1 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, trang 421 2 Bộ giáo dục và đào tạo (2019), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin, trang 23 3 Viện ngôn ngữ học, (2003), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, trang 590 10 Từ những phân tích trên, tác giả khái quát về khái niệm hàng hóa luân chuyển như sau: Hàng hóa luân chuyển trong quá trình SXKD bao gồm những nguyên vật liệu để sản xuất hàng hóa, những sản phẩm dang dở hay những thành phẩm hoàn chỉnh được mua bán, thay thế, trao đổi, dịch chuyển luân phiên trong quá trình SXKD. Theo pháp luật Việt Nam, khái niệm về hàng hóa luân chuyển chưa có sự thống nhất mà thay đổi qua các giai đoạn. BLDS hiện hành không có định nghĩa về hàng hóa luân chuyển, mà chỉ ghi nhận về quyền của bên thế chấp tại Khoản 4 Điều 321 BLDS 2015 về quyền được bán, thay thế, trao đổi TSTC là hàng hóa luân chuyển. Tại Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại có định nghĩa chính thức về hàng hoá bao gồm tất cả động sản và những vật gắn liền với đất đai, nhưng đó lại chỉ là định nghĩa về hàng hoá tiềm năng, nghĩa là những tài sản có thể trở thành hàng hoá.4 Như vậy, các văn bản luật chưa có định nghĩa cụ thể về hàng hóa luân chuyển.
Các văn bản dưới luật là các Nghị định hướng dẫn về giao dịch bảo đảm qua các thời kỳ thì quy định về khái niệm hàng hóa luân chuyển như sau: Theo khoản 8 Điều 2 Nghị định 165/1999/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm ngày 19/11/1999 quy định “Hàng hoá luân chuyển trong quá trình SXKD gồm máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, hàng tiêu dùng, các động sản khác hoặc các bất động sản dùng để trao đổi, mua bán gắn với chức năng SXKD của bên bảo đảm.” Theo quy định trên thì hàng hóa luân chuyển bao gồm cả động sản và bất động sản dùng để trao đổi, mua bán trong hoạt động SXKD. Nghị định này hết hiệu lực vào ngày 27/01/2007. Từ phân tích về mặt lý luận trên đây về hàng hóa luân chuyển, thì cách quy định tại Nghị định 165/1999/NĐ-CP là chưa phù hợp, bởi lẽ bất động sản như đất đai, nhà ở công trình gắn liền với đất đai là những vật không thể dịch chuyển. Sau đó, Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm ngày 29/12/2006 đã thay thế Nghị định trên và quy định về hàng hóa luân chuyển tại Khoản 8 Điều 3 như sau: “Hàng hóa luân chuyển trong quá trình SXKD là động sản dùng để trao 4 Nguyễn Ngọc Điện, (2019), Xác định tài sản thế chấp theo tinh thần Bộ luật dân sự 2015, Nghiên cứu lập pháp, trang 41 11 đổi, mua bán, cho thuê trong phạm vi hoạt động SXKD của bên bảo đảm.” Theo đó, Nghị định 163 đã thay đổi định nghĩa tại Nghị định 165/1999/NĐ-CP, quy định bất động sản không phải là hàng hóa luân chuyển.
Nghị định 163/2006/NĐ-CP hết hiệu lực vào ngày 15/5/2021. Theo quy định tại Điều 3 Luật thương mại thì hàng hóa có thể là bất động sản (những vật gắn liền với đất đai gồm nhà ở, công trình xây dựng khác, rừng sản xuất là rừng trồng và cây lâu năm). Việc quy định hàng hóa luân chuyển không bao gồm những bất động sản này là phù hợp. Bởi bất động sản không đáp ứng được tính chất dịch chuyển luân phiên, không cố định trong quá trình SXKD.
Đến Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành BLDS về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ ngày 19/3/2021 thay thế cho Nghị định 163/2006/NĐ-CP đã không còn quy định về khái niệm hàng hóa luân chuyển tại mục giải thích từ ngữ. Tại Điều 19 của Nghị định quy định như sau để nhận diện hàng hóa luân chuyển: “Hàng hóa luân chuyển trong quá trình SXKD có thể là hàng hóa trong kho hoặc là hàng hóa đang tham gia quá trình SXKD.” Từ quy định này, có thể thấy các nhà làm luật đã bỏ đi việc liệt kê các loại hàng hóa luân chuyển, cách quy định theo Nghị định 21/2021/NĐ- CP như trên theo tác giả nhận thấy là một hướng phù hợp để nhận diện về hàng hóa luân chuyển bao gồm hàng hóa nằm trong kho hàng và hàng hóa đang trao đổi, mua bán, thay thế trên thị trường trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc phân biệt hàng hóa trong kho và hàng hóa tham gia quá trình sản xuất kinh doanh vẫn chưa được làm rõ. Phân tích về khái niệm hàng hóa trong kho và hàng hóa tham gia quá trình SXKD, theo Nguyễn Ngọc Điện thì khái niệm hàng hóa luân chuyển là toàn bộ hàng hóa của doanh nghiệp, nên rộng hơn khái niệm kho hàng.
Nhưng trên thực tế, thế chấp hàng hóa luân chuyển và thế chấp kho hàng là đồng nhất.5 Theo quy định của pháp luật Mỹ, Pháp, Hà Lan thì hàng hóa luân chuyển được hiểu là hàng hóa trong kho do có sự gắn kết tài sản vào một địa điểm nơi có hàng hóa nên cách hiểu này làm tăng tính xác định của hàng hóa luân chuyển cũng như dễ dàng trong việc kiểm tra, 5 Nguyễn Ngọc Điện, (2019), Xác định tài sản thế chấp theo tinh thần Bộ luật dân sự 2015, Nghiên cứu lập pháp, trang 41 12 giám sát hàng hóa thế chấp. Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, hàng hóa luân chuyển không chỉ bao gồm hàng hóa trong kho mà còn bao gồm hàng hóa đang bày bán, đang lưu thông trên thị trường, việc cho phép thế chấp cả hàng hóa đang lưu thông trên thị trường như hàng hóa đang bày bán trên kệ của siêu thị giúp mở rộng đối tượng tài sản thế chấp nhưng cũng đặt ra khó khăn về việc kiểm tra, giám sát, kiểm soát loại hàng hóa thế chấp này dẫn đến việc đã xuất hiện nhiều rủi ro trong việc thế chấp và xử lý tài sản thế chấp trên thực tế. Việc định nghĩa về hàng hóa luân chuyển như quy định hiện nay dẫn đến việc khó khăn trong việc phân biệt đặc điểm, tính chất pháp lý của hàng hóa luân chuyển và kho hàng. Nhiều trường hợp trên thực tế, khi các TCTD nhận tài sản thế chấp không phân biệt được thế chấp kho hàng hay thế chấp hàng hóa luân chuyển, dẫn đến nhầm lẫn và xuất hiện nhiều rủi ro về mặt pháp lý.
Xét từ vụ việc công ty Thanh Mai thế chấp hàng hóa luân chuyển là hạt điều thô tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank). Từ năm 2009 đến năm 2011, Doanh nghiệp Thanh Mai đã kí hợp đồng vay với Ngân hàng Eximbank (chi nhánh Bà Rịa – Vũng Tàu) với các tài sản thế chấp là bất động sản, nhà xưởng, phương tiện vận tải, máy móc chế biến hạt điều và hạt điều thô. Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, thời gian đầu doanh nghiệp đã thực hiện đúng nghĩa vụ theo hợp đồng. Đến cuối năm 2011, doanh nghiệp phát sinh vi phạm hợp đồng tín dụng, không trả được nợ gốc và lãi cho Ngân hàng.
Đến đầu năm 2012, Ngân hàng tiến hành kiểm tra tài sản thế chấp của doanh nghiệp thì phát hiện thiếu hơn 1500 tấn hạt điều thô, trị giá khoảng 30 tỷ đồng, phát hiện nhiều bao đựng vỏ hạt điều, vỏ trấu ở trong kho lẫn lộn với hạt điều thô. Doanh nghiệp Thanh Mai thừa nhận đã lấy số hạt điều thô đem ra chế biến, bán nhưng không trả lại tiền cho Ngân hàng. Bản án hình sự sơ thẩm nhận định nguyên nhân thiệt hại xuất phát từ việc cán bộ Ngân hàng không kiểm đếm hàng hóa, không định kỳ theo dõi kiểm tra hàng hóa dẫn đến thất thoát số tiền lớn. Các cán bộ Ngân hàng này cũng đã bị xử lý hình sự về tội “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”.
13 Phân tích vụ việc trên, nguyên nhân chính dẫn đến việc thất thoát hơn 1.500 tấn hạt điều thô, thay thế vào đó chỉ là những vỏ hạt điều, vỏ trấu trộn lẫn xuất phát từ khâu kiểm soát hàng hóa của Ngân hàng. Phía Ngân hàng chưa phân biệt được việc cho thế chấp hạt điều thô này dưới dạng thế chấp kho hàng hay thế chấp hàng hóa luân chuyển để có thể đưa ra thỏa thuận về biện pháp kiểm soát trong hợp đồng thế chấp. Trong trường hợp thế chấp kho hàng, Ngân hàng cần kiểm soát được chứng từ xuất nhập kho, tức Doanh nghiệp được xuất hàng trong kho ra với điều kiện phải nhập hàng khác vào trong kho, và vẫn phải đảm bảo giá trị hàng hóa trong kho.