lời mở đầu này, tôi xin được gửi lời trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Viết Kính, tập thể các giảng viên Khoa Sau đại học, trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội, đội ngũ cán bộ kỹ thuật Công ty bảo đảm hoạt động bay miền Bắc cùng các đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt luận văn này. Xin chân thành cảm ơn! TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 CHƢƠNG 1: QUẢN LÝ BAY VIỆT NAM – HIỆN TRẠNG VÀ KHÓ KHĂN 1. Hoạt động của Trung tâm quản lý bay dân dụng Việt Nam (VATM) – hiện chuyển tên là Tổng công ty bảo đảm hoạt động bay Việt Nam (VANSCORP): Trung tâm quản lý bay dân dụng Việt Nam là công ty nhà nước có nhiệm vụ cung ứng bảo đảm hoạt động bay nhằm bảo đảm hoạt động bay an toàn, điều hoà, liên tục và hiệu quả. Chức năng và nhiệm vụ chính của VATM là: Cung cấp các dịch vụ không lưu bao gồm: Dịch vụ điều hành không lưu cho tại sân (TWR), vùng tiếp cận (APP) và đường dài (ACC).
Công tác thông báo bay (FIS) và các dịch vụ cảnh báo (ALRS). Quản lý vùng trời, không phận quốc gia: Quản lý các phương tiện cơ sở hạ tầng cho không vận. Thiết lập các đường bay và phối hợp trong việc sử dụng vùng trời. Ngoài ra còn có các dịch vụ khác như dịch vụ khí tượng, tìm kiếm cứu nguy, huấn luyện, đào tạo,.
Cùng với yêu cầu phát triển của ngành hàng không quốc tế, tổ chức hàng không dân dụng quốc tế ICAO đã có những giám sát, khuyến nghị hướng dẫn các quốc gia trong các hệ thống tổ chức quản lý không lưu. Theo ICAO yêu cầu, để cung cấp các dịch vụ tốt nhất theo yêu cầu của các khách hàng thì một hệ thống quản lý bay cần phải cung cấp tất cả các dịch vụ cơ bản là: Quản lý không lưu – ATN: Quản lý chung các dịch vụ cung cấp, phối kết hợp đồng bộ các dịch vụ để đạt được kết quả tốt nhất. Dịch vụ không lưu – ATS: Điều hành bay trực tiếp các tàu bay trong vùng thông báo bay. Dịch vụ thông tin liên lạc – CS: Hay còn gọi là các dịch vụ thông tin cố định hàng không, bao gồm: thông tin thoại, số liệu giữa các đơn vị kiểm soát không lưu nội địa, quốc tế với nhau và với tàu bay.
Mạng bao gồm các hệ thống thông tin trực thoại, hệ thống chuyển tiếp điện văn tự động sử dụng các đường truyền dẫn viễn thông quy mô lớn. Dịch vụ giám sát – SS: giám sát tất cả các hoạt động bay trong vùng thông báo bay, sử dụng các Radar tại các trạm thu thập xử lý, lưu trữ và phân phát các dữ liệu bay về trung tâm phục vụ cho việc điều hành bay. Dịch vụ dẫn đường – NS: Sử dụng các phương tiện dẫn đường như đèn hiệu, NDB, VOR/DME hoặc vệ tinh để dẫn đường cho các tàu bay. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 Dịch vụ khí tượng hàng không – MS: Giám sát các hiện tượng thời tiết trong vùng thông báo bay, xử lý các số liệu thời tiết và cấp phát cho tất cả các đơn vị liên quan.
Dịch vụ cảnh báo, tìm kiếm và cứu nạn – SAR: tổ chức tốt các mạng lưới tìm kiếm, cứu nguy trên quy mô quốc gia, quốc tế, sẵn sàng ứng phó với các tình huống lâm nạn của tàu bay. Ngoài ra việc huấn luyện, đào tạo chuyên môn cũng có vai trò to lớn trong việc duy trì và phát triển hệ thống, đây cũng là một loại dịch vụ không thể thiếu được trong việc quản lý nguồn nhân lực cho ngành quản lý bay. Hiện trạng của các hệ thống hiện tại: Không phận Việt Nam được chia thành 2 vùng thông báo bay (FIR) là FIR Hà Nội và FIR Hồ Chí Minh. Việc điều hành hoạt động bay trong FIR Hà Nội do Trung tâm quản lý bay miền Bắc – nay là Công ty bảo đảm hoạt động bay miền Bắc, đảm trách.
Hình 1 – 1: FIR Hà Nội và FIR Hồ Chí Minh FIR Hà Nội bao gồm 16 đường bay, trong đó có 5 đường bay quốc tế (A202, A206, B465, R474, R471) và 11 đường bay nội địa (W1, W2, W3, W4, W5, W6, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 W10, W14, W20, W21, W22) với 2 sân bay quốc tế (Nội Bài, Cát Bi) và 4 sân bay quốc nội (Điện Biên, Nà Sản (đang tạm ngừng để nâng cấp), Vinh, Đồng Hới). Nó được chia thành 2 phân khu, phân khu Bắc và phân khu Nam có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ không lưu cho các tàu bay đến/đi và quá cảnh qua FIR Hà Nội. Hình 1 – 2: Các trạm VHF và tầm phủ sóng tương ứng trên lãnh thổ Việt Nam. Hệ thống thông tin trực thoại hàng không sử dụng các tuyến truyền dẫn VSAT, Viba và cáp quang cung cấp các dịch vụ trực thoại đường dây nóng giữa các Trung tâm chỉ huy bay.
Việc liên lạc không – địa sử dụng các hệ thống điều khiển xa VHF với cơ chế điều biên AM 25kHz công suất phát lớn đến 250W tạo nên mạng lưới các trạm VHF bao phủ toàn bộ FIR và hệ thống thu phát HF đơn biên. Cụ thể như sau: - Hệ thống thiết bị VHF Nội Bài (VHF EXICOM 50W) được đặt tại ACC Hà Nội và lắp đặt và đưa vào sử dụng từ năm 1993, trang bị cho cả hai phân khu điều hành bay của FIR Hà Nội (phân khu Bắc và phân khu Nam). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 - Trạm VHF Tam Đảo (VHF EXICOM 50W) được sử dụng để phủ sóng cho phân khu Bắc và một phần phân khu Nam. - Trạm VHF Vinh (VHF EXICOM 50W) được triển khai, lắp đặt và đưa vào sử dụng từ năm 1997 với mục đích đáp ứng việc phủ sóng cho phân khu Nam.
- Trạm VHF Sơn Trà được thiết lập với mục đích ban đầu để phục vụ công tác điều hành bay cho phân khu I ACC Hồ Chí Minh. Đến năm 2000 triển khai thêm hệ thống VHF để bổ trợ cho các trạm VHF Vinh và VHF Nội Bài. - Hệ thống thiết bị VHF Vinh, Điện Biên, Cát Bi đều dùng thiết bị thu phát công suất 7W. Hệ thống chuyển tiếp điện văn tự động AMSC được đặt tại các trung tâm HAN, DNA, HCM và Trung tâm điều hành chỉ huy bay kết nối sử dụng các phương tiện truyền dẫn nêu trên.
Hệ thống giám sát được cơ cấu bởi các trạm Radar sơ cấp PSR tầm phủ 80 dặm và các trạm Radar thứ cấp SSR tầm phủ 250 dặm có nhiệm vụ thu thập các thông tin tàu bay cung cấp cho các trung tâm xử lý số liệu Radar tại hai FIR. Sơ đồ trạm và tầm phủ được mô tả như hình 1 – 3 dưới đây. Hình 1 – 3: Tầm phủ Radar trên lãnh thổ Việt Nam Dich vụ dẫn đƣờng được cung cấp bởi các đài NDB và VOR/DME trải dài trên các tuyến bay nội địa và quốc tế. Tại các sân bay với yêu cầu cao về lưu lượng có sự TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 phối hợp giữa các đài NDB, hệ thống đèn tín hiệu và các phương tiện hạ cánh ILS lắp đặt tại đường băng.
Dịch vụ cảnh báo, tìm kiếm và cứu nạn SAR được tổ chức thành ba trung tâm chịu sự quản lý trực tiếp bởi VATM, bao gồm: - 2 trung tâm tìm kiếm và cứu nạn tại HAN và HCM. - 1 trung tâm con tại DNA. Các trung tâm trên hoạt động có sự phối hợp cùng các nhà chức trách, các cụm cảng hàng không và trung tâm tìm kiếm cứu nạn quốc gia đảm bảo dịch vụ nhanh nhất trong mọi trường hợp khẩn cấp. Hình 1 – 4: Hệ thống các phương tiện dẫn đường kết hợp 1.
Phân tích đánh giá hiện trạng của hệ thống VHF tại FIR Hà Nội:[1] Do đặc điểm địa hình phần phân khu Bắc rộng có dãy núi Hoàng Liên Sơn chia cắt làm 2 phần, phần phía Tây hẹp nhưng núi non hiểm trở, có nhiều núi cao, phần phía Đông rộng gồm núi cao, đồng bằng, biển. Phân khu Nam hẹp nhưng lại dài. Do TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 20 đặc thù của địa hình nêu trên, nên mặc dù hiện nay, trong FIR Hà Nôị đã lắp đặt 4 trạm VHF (Nội Bài, Tam Đảo, Vinh, Sơn Trà) phục vụ công tác điều hành bay nhưng thực tế cho thấy vùng phủ sóng VHF của các trạm này còn có nhiều hạn chế: - Phân khu Bắc với 2 trạm thu/phát sóng VHF đặt tại Nội Bài và Tam Đảo (Kiểm soát viên không lưu chỉ chọn được một trong hai trạm) cũng đã phủ sóng phần lớn vùng trách nhiệm, tuy nhiên vẫn còn những vùng chưa được phủ sóng như phần phía Tây Bắc nơi có 2 sân bay Nà Sản và Điện Biên trên đường W4, các vùng biển khu vực Hải Phòng, Quảng Ninh, trên đường bay W10 ở các mực bay thấp. - Phân khu Nam với 3 trạm thu/phát sóng VHF đặt tại Nội Bài, Vinh, Sơn Trà trên thực tế tại một thời điểm chỉ phát được trên một trạm VHF.
Hiện nay phân khu Nam được điều hành chính bằng trạm VHF Vinh. Trạm VHF Sơn Trà chỉ để dự phòng trong trường hợp trạm Vinh có sự cố kỹ thuật. Với cách tổ chức hiện nay, tầm phủ sóng VHF của trạm VHF Vinh chưa đảm bảo phủ sóng toàn bộ phân khu Nam. Cụ thể một số đường bay như W20, một phần của đường bay W1, W2, W10.
Vấn đề nhiễu sóng VHF có và không có khả năng khắc phục cũng là điểm cần chú ý. Do việc quản lý về tần số đồng thời phương thức điều chế AM hiện đang dùng là phương thức phổ thông và không có mã hoá chống nhiễu nên còn bị nhiễu tần số tại các vùng cục bộ. Ta chỉ có thể khắc phục tạm thời là sử dụng các tần số dự phòng khác đã đăng ký. Như vậy, hiện trạng của hệ thống trên không thể đảm bảo cho nhu cầu lưu lượng bay hiện nay.
Theo số liệu thống kê thì đối với FIR Hà Nội tính từ năm thành lập 1993 đến năm 2003, tổng số chuyến bay được điều hành đã đạt trên 230000 chuyến (dựa trên báo cáo hàng năm của VATM). Tính từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 30 tháng 9 năm 2009, FIR Hà Nội đã điều hành bay được khoảng 49000 chuyến bao gồm cả quốc tế và quốc nội (được lấy từ số liệu bay của công ty bảo đảm hoạt động bay miền Bắc). Do lưu lượng bay tăng lên, nhu cầu về cung cấp dịch vụ không lưu trên một vùng trời cũng tăng lên.