Luận văn: Ứng dụng VHF Offset trong liên lạc hàng không dân dụng Việt Nam

VHF Offset là gì? Giải pháp liên lạc hàng không hiệu quả tại Việt Nam. Tìm hiểu về ứng dụng, lợi ích và tầm quan trọng của VHF Offset.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2009

76
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

Lời mở đầu:

1. CHƢƠNG 1: QUẢN LÝ BAY VIỆT NAM – HIỆN TRẠNG VÀ KHÓ KHĂN

1.1. Hoạt động của Trung tâm quản lý bay dân dụng Việt Nam (VATM) – hiện chuyển tên là Tổng công ty bảo đảm hoạt động bay Việt Nam (VANSCORP):

1.2. Phân tích đánh giá hiện trạng của hệ thống VHF tại FIR Hà Nội:

2. CHƢƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ CÁC GIẢI PHÁP KỸ THUẬT (TRONG QUẢN LÝ BAY)

Tóm tắt

I. VHF Offset Tổng Quan Giải Pháp Liên Lạc Hàng Không Việt Nam

Trong bối cảnh ngành hàng không Việt Nam ngày càng phát triển, việc đảm bảo an toàn và hiệu quả liên lạc hàng không là vô cùng quan trọng. Luận văn "Ứng dụng VHF Offset trong liên lạc hàng không dân dụng Việt Nam" nghiên cứu về kỹ thuật VHF offset, một kỹ thuật thông tin liên lạc thoại giữa kiểm soát viên không lưu và phi công sử dụng sóng vô tuyến VHF được làm trễ, có thể phát cùng một tần số trên nhiều trạm và giải quyết bài toán xây dựng tuyến truyền thông VHF offset giữa các trạm với nhau cũng như giữa các trạm với tàu bay. Kỹ thuật này đã được chọn nhờ lợi thế về tính đơn giản, hiệu quả và kinh tế khi nâng cấp hệ thống VHF cũ, giảm thiểu sự thay đổi công nghệ kỹ thuật và đào tạo người vận hành trong thời gian ngắn. Đảm bảo được tầm phủ sóng rộng sau khi bỏ trạm VHF Tam Đảo và chỉ cần đầu tư trang thiết bị mới cho phần hệ thống VHF offset mà không phải toàn bộ dây chuyền. Luận văn này tập trung vào việc phân tích, đánh giá và đề xuất ứng dụng VHF Offset như một giải pháp tiềm năng để nâng cao hiệu quả liên lạc vô tuyến trong ngành hàng không Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh quản lý tần số hàng không ngày càng phức tạp. Đây là một trong nhiều kỹ thuật được đề ra để nghiên cứu, lựa chọn phương án thay thế cho trạm thu phát VHF Tam Đảo, giúp cho kiểm soát viên không lưu đường dài thuận tiện hơn trong điều hành bay. Kỹ thuật VHF offset giúp cho kiểm soát viên không lưu phát đồng thời trên các trạm mà không cần quan tâm đến vị trí của tàu bay nữa, và cũng không gây ra nhiễu giữa các trạm tại tàu bay đặc biệt là không cần phải thay đổi công nghệ trên tàu bay.

1.1. Lịch Sử Phát Triển và Vai Trò của Quản Lý Bay tại Việt Nam

Trong lịch sử xây dựng và phát triển hơn nửa thế kỷ qua, ngành hàng không dân dụng Việt Nam đã có những bước phát triển đáng tự hào, tạo được những điều kiện tương đối vững chắc để không bị tụt hậu và có thể từng bước hòa nhập với sự phát triển chung của Hàng không thế giới. Trong đó Quản lý bay là một trong ba chuyên ngành mũi nhọn của ngành Hàng không dân dụng Việt Nam và ngày càng đóng góp những cố gắng trong việc đưa Hàng không Việt Nam lên một tầm cao mới xứng với sự phát triển của khu vực và thế giới.

1.2. Mục Tiêu và Phạm Vi Nghiên Cứu của Luận Văn về VHF Offset

Luận văn "Ứng dụng VHF offset trong liên lạc hàng không dân dụng Việt Nam" nghiên cứu về kỹ thuật VHF offset – một kỹ thuật thông tin liên lạc thoại giữa kiểm soát viên không lưu và phi công sử dụng sóng vô tuyến VHF được làm trễ, có thể phát cùng một tần số trên nhiều trạm và giải quyết bài toán xây dựng tuyến truyền thông VHF offset giữa các trạm với nhau cũng như giữa các trạm với tàu bay.

1.3. Ưu Điểm Vượt Trội của VHF Offset so với Các Giải Pháp Khác

Kỹ thuật này đã được chọn nhờ lợi thế về tính đơn giản, hiệu quả và kinh tế khi nâng cấp hệ thống VHF cũ, đó là: Vẫn là truyền dẫn VHF truyền thống, nên thay đổi về mặt công nghệ kỹ thuật không nhiều và có thể đào tạo cho người vận hành khai thác trong một thời gian ngắn. Đảm bảo được tầm phủ sóng rộng sau khi bỏ trạm VHF Tam Đảo. Chỉ cần đầu tư trang thiết bị mới cho phần hệ thống VHF offset mà không phải toàn bộ dây chuyền. Giúp cho kiểm soát viên không lưu đường dài thuận tiện hơn trong điều hành bay.

II. Thách Thức Liên Lạc Hàng Không VN Tối Ưu Tần Số VHF

Hiện trạng của các hệ thống hiện tại: Không phận Việt Nam được chia thành 2 vùng thông báo bay (FIR) là FIR Hà Nội và FIR Hồ Chí Minh. Việc điều hành hoạt động bay trong FIR Hà Nội do Trung tâm quản lý bay miền Bắc – nay là Công ty bảo đảm hoạt động bay miền Bắc, đảm trách. Hệ thống thông tin trực thoại hàng không sử dụng các tuyến truyền dẫn VSAT, Viba và cáp quang cung cấp các dịch vụ trực thoại đường dây nóng giữa các Trung tâm chỉ huy bay. Việc liên lạc không – địa sử dụng các hệ thống điều khiển xa VHF với cơ chế điều biên AM 25kHz công suất phát lớn đến 250W tạo nên mạng lưới các trạm VHF bao phủ toàn bộ FIR và hệ thống thu phát HF đơn biên. Do đặc điểm địa hình phần phân khu Bắc rộng có dãy núi Hoàng Liên Sơn chia cắt làm 2 phần, phần phía Tây hẹp nhưng núi non hiểm trở, có nhiều núi cao, phần phía Đông rộng gồm núi cao, đồng bằng, biển. Phân khu Nam hẹp nhưng lại dài. Vấn đề nhiễu sóng VHF có và không có khả năng khắc phục cũng là điểm cần chú ý.

2.1. Hiện Trạng Hệ Thống Thông Tin Liên Lạc VHF tại Việt Nam

Không phận Việt Nam được chia thành 2 vùng thông báo bay (FIR) là FIR Hà Nội và FIR Hồ Chí Minh. Việc điều hành hoạt động bay trong FIR Hà Nội do Trung tâm quản lý bay miền Bắc – nay là Công ty bảo đảm hoạt động bay miền Bắc, đảm trách. Hình 1 – 1: FIR Hà Nội và FIR Hồ Chí Minh FIR Hà Nội bao gồm 16 đường bay, trong đó có 5 đường bay quốc tế (A202, A206, B465, R474, R471) và 11 đường bay nội địa (W1, W2, W3, W4, W5, W6, W10, W14, W20, W21, W22) với 2 sân bay quốc tế (Nội Bài, Cát Bi) và 4 sân bay quốc nội (Điện Biên, Nà Sản (đang tạm ngừng để nâng cấp), Vinh, Đồng Hới). Nó được chia thành 2 phân khu, phân khu Bắc và phân khu Nam có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ không lưu cho các tàu bay đến/đi và quá cảnh qua FIR Hà Nội.

2.2. Các Hạn Chế về Vùng Phủ Sóng VHF Hiện Tại và Giải Pháp Khắc Phục

Do đặc thù của địa hình nêu trên, nên mặc dù hiện nay, trong FIR Hà Nôị đã lắp đặt 4 trạm VHF (Nội Bài, Tam Đảo, Vinh, Sơn Trà) phục vụ công tác điều hành bay nhưng thực tế cho thấy vùng phủ sóng VHF của các trạm này còn có nhiều hạn chế: Phân khu Bắc với 2 trạm thu/phát sóng VHF đặt tại Nội Bài và Tam Đảo (Kiểm soát viên không lưu chỉ chọn được một trong hai trạm) cũng đã phủ sóng phần lớn vùng trách nhiệm, tuy nhiên vẫn còn những vùng chưa được phủ sóng như phần phía Tây Bắc nơi có 2 sân bay Nà Sản và Điện Biên trên đường W4, các vùng biển khu vực Hải Phòng, Quảng Ninh, trên đường bay W10 ở các mực bay thấp.

2.3. Tăng Trưởng Lưu Lượng Bay và Nhu Cầu Nâng Cấp Hệ Thống Liên Lạc

Như vậy, hiện trạng của hệ thống trên không thể đảm bảo cho nhu cầu lưu lượng bay hiện nay. Theo số liệu thống kê thì đối với FIR Hà Nội tính từ năm thành lập 1993 đến năm 2003, tổng số chuyến bay được điều hành đã đạt trên 230000 chuyến (dựa trên báo cáo hàng năm của VATM). Tính từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 30 tháng 9 năm 2009, FIR Hà Nội đã điều hành bay được khoảng 49000 chuyến bao gồm cả quốc tế và quốc nội (được lấy từ số liệu bay của công ty bảo đảm hoạt động bay miền Bắc).

III. VHF Offset Giải Pháp Kỹ Thuật Cho Liên Lạc Hàng Không

VHF – Offset: Do môi trường và cơ sở hạ tầng bị hạn chế, vài tầm phủ của phân vùng điều khiển không thể đạt được chỉ bằng một trạm mặt đất. Để đối phó với những hạn chế hoạt động này, cần phải dùng đồng thời vài trạm mặt đất độc lập hoạt động trên cùng một tần số. Về mặt kỹ thuật có thể thực hiện được 5 trạm (theo Annex 10 của ICAO, nhưng thường giới hạn trong 4 trạm), quá trình này gọi là trễ sóng mang (offset carrier). Mục đích là giảm nhiễu bề mặt địa lý, đặc biệt ở các phân vùng mức thấp, cho phép mở rộng phạm vi phủ sóng, đối phó với việc không có hay thiếu vị trí thích hợp cho các trạm mặt đất hiện nay, hỗ trợ dự phòng.

3.1. Nguyên Lý Hoạt Động Cơ Bản Của Kỹ Thuật VHF Offset

Hoạt động offset-carrier cho liên lạc không lưu là việc phát quảng bá đồng thời trên một kênh liên lạc thông qua hai hay nhiều máy phát. Khi thu đồng thời các sóng mang VHF: Giả sử ta có một hệ thống hai sóng mang offset có vùng phủ chồng lấn lên nhau được phát đi từ hai trạm có vị trí cách nhau 200km trên trục Bắc – Nam. Các trạm đều phát sóng vô hướng. Các tín hiệu âm tần điều chế được sắp xếp để phát đồng pha với nhau.

3.2. Tác Động của Trễ Thời Gian và Các Yếu Tố Gây Nhiễu Fading Echo

Trễ thoại được hiểu là thời gian cần thiết để phát thoại từ đầu - cuối giữa người nói và người nghe. Trễ xảy ra trong suốt quá trình chuyển đổi tương tự/số (A/D) và tuỳ thuộc vào phương pháp nén thoại được áp dụng, ví dụ với nén PCM (điều chế xung mã), luật A (G.75ms, trong khi với nén ADPCM (điều chế xung mã sai phân thích nghi) (G.726) trễ là 1ms. Rõ ràng là kỹ thuật mã hoá thoại với nén thấp hơn có trễ ngắn hơn, tức là trễ tăng lên khi tăng mức nén.

3.3. Các Giải Pháp Khắc Phục Nhiễu và Đảm Bảo Chất Lượng Tín Hiệu

Trong trường hợp liên lạc không đối đất, toàn bộ mặt hạn chế của hoạt động offset carrier được khắc phục dễ dàng bằng cách sử dụng thiết bị lựa chọn tín hiệu tốt nhất (BSS - Best Signal Selection) trong bộ điều khiển VCS. Khi phát tầu bay không sử dụng offset tần số, các trạm mặt đất trong tầm phủ đều thu được tín hiệu và truyền về trung tâm thông qua các đường truyền như viba, cáp quang. Đương nhiên là trạm thu ở gần tầu bay nhất sẽ thu được tín hiệu tốt nhất và sẽ được kiểm soát viên lựa chọn.

IV. Thiết Kế Tuyến Truyền Thông VHF Offset Áp Dụng Tại VN

Các trạm VHF offset thông qua vệ tinh: Đây là phương án kết nối các trạm VHF xa để đạt được trễ giữa các trạm xấp xỉ là 2ms. Tên trạm Trung tâm điều khiển Tần số (MHz) Nội Bài Có F125,9 và F132,3 Vinh Không F125,9 và F121,5 Mộc Châu Không F132,3 và F121,5 Bảng 3.1: Các tần số phát offset ứng với các trạm Tổ chức phát offset yêu cầu thực hiện cho: F125,9 tại Vinh và Nội Bài; F132,3 tại Mộc Châu và Nội Bài. Phương thức truyền dẫn: landline và vệ tinh (dự phòng).

4.1. Lựa Chọn Tần Số và Thiết Lập Thiết Bị Phát Tại Các Trạm

Mạng VHF offset tổ chức như sau: Tên trạm Trung tâm điều khiển Tần số (MHz) Nội Bài Có F125,9 và F132,3 Vinh Không F125,9 và F121,5 Mộc Châu Không F132,3 và F121,5 Bảng 3.1: Các tần số phát offset ứng với các trạm Tổ chức phát offset yêu cầu thực hiện cho: F125,9 tại Vinh và Nội Bài; F132,3 tại Mộc Châu và Nội Bài. Phương thức truyền dẫn: landline và vệ tinh (dự phòng).

4.2. Tính Toán và Thiết Lập Độ Trễ Thời Gian Cho Hệ Thống

Theo cấu hình của hệ thống, sẽ có 3 loại đường truyền cho các hệ thống VHF: Kết nối trực tiếp với VCS (đối với hệ thống ACC HAN). Tín hiệu từ VCS đưa qua thiết bị điều khiển xa, qua line A rồi thông qua phương tiện truyền dẫn landline (đường điều khiển chính cho trạm thu/phát xa tại Vinh và Mộc Châu). Tín hiệu từ VCS qua thiết bị điều khiển xa, qua line B rồi thông qua phương tiện truyền dẫn VSAT (đường điều khiển dự phòng cho trạm thu/phát xa tại Vinh và Mộc Châu).

4.3. Tính Toán và Đảm Bảo Tuyến Liên Lạc VHF A G Ổn Định

Các tần số sử dụng đặt tại ACC Nội Bài và yêu cầu về cự ly liên lạc: Ký Tần số Mục đích Khoảng cách Cự ly liên lạc hiệu (MHz) sử dụng (kHz) yêu cầu (km) f1 121,5 Khẩn nguy ATC 0 450 f2 125,9 ACC S chính 4400 450 f3 128,15 ACC dự phòng 2250 450 f4 132,3 ACC N 4150 450

V. VHF Offset Ưu và Nhược Điểm So Sánh Với Giải Pháp Khác

Từ giới thiệu về 3 kỹ thuật VHF mới ở trên, ta có thể đưa ra các đánh giá như sau:  VHF datalink thực hiện truyền dữ liệu qua sóng VHF, các trạm mặt đất và tàu bay thường xuyên cung cấp số liệu lẫn nhau (về vị trí, về độ cao, về tốc độ, .) để định tuyến bay tự động. Kỹ thuật này được dùng cho ACC và APP, còn TWR thì vẫn sử dụng kỹ thuật VHF truyền thống để liên lạc với tàu bay.  B-VHF được đưa ra để giải quyết vấn đề hạn chế băng tần VHF hàng không cho các nước có mật độ bay cao sử dụng kỹ thuật MC – CDMA dựa trên OFDM. Hệ thống B-VHF sẽ phát VHF băng rộng điều chế số, việc này đòi hỏi phải thay đổi tất cả các thiết bị thu phát trạm mặt đất và trên tàu bay.  VHF offsetVHF truyền thống được đưa ra để giải quyết việc giảm tải cho kiểm soát viên không lưu đường dài.

5.1. Đánh Giá So Sánh Các Giải Pháp Kỹ Thuật VHF Datalink B VHF VHF Offset

VHF datalink thực hiện truyền dữ liệu qua sóng VHF, các trạm mặt đất và tàu bay thường xuyên cung cấp số liệu lẫn nhau (về vị trí, về độ cao, về tốc độ, .) để định tuyến bay tự động. Kỹ thuật này được dùng cho ACC và APP, còn TWR thì vẫn sử dụng kỹ thuật VHF truyền thống để liên lạc với tàu bay. B-VHF được đưa ra để giải quyết vấn đề hạn chế băng tần VHF hàng không cho các nước có mật độ bay cao sử dụng kỹ thuật MC – CDMA dựa trên OFDM. Hệ thống B-VHF sẽ phát VHF băng rộng điều chế số, việc này đòi hỏi phải thay đổi tất cả các thiết bị thu phát trạm mặt đất và trên tàu bay.

5.2. Tính Khả Thi và Phù Hợp của VHF Offset Với Điều Kiện VN

Từ nhận định này, việc lựa chọn kỹ thuật VHF offset là phù hợp và khả thi cho FIR Hà Nội. Công ty bảo đảm hoạt động bay Việt Nam mới triển khai bắt đầu từ tháng 12 năm 2007 cho đến hết tháng 3 năm 2008, hoạt động thử nghiệm từ tháng 4 năm 2008 và đến tháng 9 năm 2008 thì chính thức đưa vào sử dụng.

5.3. Chi Phí và Hiệu Quả Đầu Tư của VHF Offset So Với Các Phương Án Khác

Kỹ thuật VHF offset giúp cho kiểm soát viên không lưu phát đồng thời trên các trạm mà không cần quan tâm đến vị trí của tàu bay nữa, và cũng không gây ra nhiễu giữa các trạm tại tàu bay đặc biệt là không cần phải thay đổi công nghệ trên tàu bay.

VI. Kết Luận Triển Vọng Ứng Dụng VHF Offset Hàng Không VN

Ứng dụng VHF offset là một giải pháp tiềm năng để nâng cao hiệu quả và an toàn trong liên lạc hàng không tại Việt Nam. Việc triển khai thành công hệ thống này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị liên quan, cũng như việc tuân thủ các tiêu chuẩn và quy định của ICAO.

6.1. Tổng Kết Những Ưu Điểm Nổi Bật của VHF Offset

Kỹ thuật này đã được chọn nhờ lợi thế về tính đơn giản, hiệu quả và kinh tế khi nâng cấp hệ thống VHF cũ, giảm thiểu sự thay đổi công nghệ kỹ thuật và đào tạo người vận hành trong thời gian ngắn.

6.2. Đề Xuất và Khuyến Nghị Để Triển Khai VHF Offset Hiệu Quả

Việc triển khai thành công hệ thống này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị liên quan, cũng như việc tuân thủ các tiêu chuẩn và quy định của ICAO.

6.3. Hướng Nghiên Cứu và Phát Triển Trong Tương Lai

Việc nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tín hiệu, cũng như việc tích hợp VHF Offset với các công nghệ liên lạc hàng không tiên tiến khác, sẽ giúp nâng cao hơn nữa hiệu quả của hệ thống.

23/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

lời mở đầu này, tôi xin được gửi lời trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Viết Kính, tập thể các giảng viên Khoa Sau đại học, trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội, đội ngũ cán bộ kỹ thuật Công ty bảo đảm hoạt động bay miền Bắc cùng các đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt luận văn này. Xin chân thành cảm ơn! TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 CHƢƠNG 1: QUẢN LÝ BAY VIỆT NAM – HIỆN TRẠNG VÀ KHÓ KHĂN 1. Hoạt động của Trung tâm quản lý bay dân dụng Việt Nam (VATM) – hiện chuyển tên là Tổng công ty bảo đảm hoạt động bay Việt Nam (VANSCORP): Trung tâm quản lý bay dân dụng Việt Nam là công ty nhà nước có nhiệm vụ cung ứng bảo đảm hoạt động bay nhằm bảo đảm hoạt động bay an toàn, điều hoà, liên tục và hiệu quả. Chức năng và nhiệm vụ chính của VATM là: Cung cấp các dịch vụ không lưu bao gồm:  Dịch vụ điều hành không lưu cho tại sân (TWR), vùng tiếp cận (APP) và đường dài (ACC).

 Công tác thông báo bay (FIS) và các dịch vụ cảnh báo (ALRS).  Quản lý vùng trời, không phận quốc gia:  Quản lý các phương tiện cơ sở hạ tầng cho không vận.  Thiết lập các đường bay và phối hợp trong việc sử dụng vùng trời. Ngoài ra còn có các dịch vụ khác như dịch vụ khí tượng, tìm kiếm cứu nguy, huấn luyện, đào tạo,.

Cùng với yêu cầu phát triển của ngành hàng không quốc tế, tổ chức hàng không dân dụng quốc tế ICAO đã có những giám sát, khuyến nghị hướng dẫn các quốc gia trong các hệ thống tổ chức quản lý không lưu. Theo ICAO yêu cầu, để cung cấp các dịch vụ tốt nhất theo yêu cầu của các khách hàng thì một hệ thống quản lý bay cần phải cung cấp tất cả các dịch vụ cơ bản là:  Quản lý không lưu – ATN: Quản lý chung các dịch vụ cung cấp, phối kết hợp đồng bộ các dịch vụ để đạt được kết quả tốt nhất.  Dịch vụ không lưu – ATS: Điều hành bay trực tiếp các tàu bay trong vùng thông báo bay.  Dịch vụ thông tin liên lạc – CS: Hay còn gọi là các dịch vụ thông tin cố định hàng không, bao gồm: thông tin thoại, số liệu giữa các đơn vị kiểm soát không lưu nội địa, quốc tế với nhau và với tàu bay.

Mạng bao gồm các hệ thống thông tin trực thoại, hệ thống chuyển tiếp điện văn tự động sử dụng các đường truyền dẫn viễn thông quy mô lớn.  Dịch vụ giám sát – SS: giám sát tất cả các hoạt động bay trong vùng thông báo bay, sử dụng các Radar tại các trạm thu thập xử lý, lưu trữ và phân phát các dữ liệu bay về trung tâm phục vụ cho việc điều hành bay.  Dịch vụ dẫn đường – NS: Sử dụng các phương tiện dẫn đường như đèn hiệu, NDB, VOR/DME hoặc vệ tinh để dẫn đường cho các tàu bay. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16  Dịch vụ khí tượng hàng không – MS: Giám sát các hiện tượng thời tiết trong vùng thông báo bay, xử lý các số liệu thời tiết và cấp phát cho tất cả các đơn vị liên quan.

 Dịch vụ cảnh báo, tìm kiếm và cứu nạn – SAR: tổ chức tốt các mạng lưới tìm kiếm, cứu nguy trên quy mô quốc gia, quốc tế, sẵn sàng ứng phó với các tình huống lâm nạn của tàu bay. Ngoài ra việc huấn luyện, đào tạo chuyên môn cũng có vai trò to lớn trong việc duy trì và phát triển hệ thống, đây cũng là một loại dịch vụ không thể thiếu được trong việc quản lý nguồn nhân lực cho ngành quản lý bay. Hiện trạng của các hệ thống hiện tại: Không phận Việt Nam được chia thành 2 vùng thông báo bay (FIR) là FIR Hà Nội và FIR Hồ Chí Minh. Việc điều hành hoạt động bay trong FIR Hà Nội do Trung tâm quản lý bay miền Bắc – nay là Công ty bảo đảm hoạt động bay miền Bắc, đảm trách.

Hình 1 – 1: FIR Hà Nội và FIR Hồ Chí Minh FIR Hà Nội bao gồm 16 đường bay, trong đó có 5 đường bay quốc tế (A202, A206, B465, R474, R471) và 11 đường bay nội địa (W1, W2, W3, W4, W5, W6, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 W10, W14, W20, W21, W22) với 2 sân bay quốc tế (Nội Bài, Cát Bi) và 4 sân bay quốc nội (Điện Biên, Nà Sản (đang tạm ngừng để nâng cấp), Vinh, Đồng Hới). Nó được chia thành 2 phân khu, phân khu Bắc và phân khu Nam có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ không lưu cho các tàu bay đến/đi và quá cảnh qua FIR Hà Nội. Hình 1 – 2: Các trạm VHF và tầm phủ sóng tương ứng trên lãnh thổ Việt Nam. Hệ thống thông tin trực thoại hàng không sử dụng các tuyến truyền dẫn VSAT, Viba và cáp quang cung cấp các dịch vụ trực thoại đường dây nóng giữa các Trung tâm chỉ huy bay.

Việc liên lạc không – địa sử dụng các hệ thống điều khiển xa VHF với cơ chế điều biên AM 25kHz công suất phát lớn đến 250W tạo nên mạng lưới các trạm VHF bao phủ toàn bộ FIR và hệ thống thu phát HF đơn biên. Cụ thể như sau: - Hệ thống thiết bị VHF Nội Bài (VHF EXICOM 50W) được đặt tại ACC Hà Nội và lắp đặt và đưa vào sử dụng từ năm 1993, trang bị cho cả hai phân khu điều hành bay của FIR Hà Nội (phân khu Bắc và phân khu Nam). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 - Trạm VHF Tam Đảo (VHF EXICOM 50W) được sử dụng để phủ sóng cho phân khu Bắc và một phần phân khu Nam. - Trạm VHF Vinh (VHF EXICOM 50W) được triển khai, lắp đặt và đưa vào sử dụng từ năm 1997 với mục đích đáp ứng việc phủ sóng cho phân khu Nam.

- Trạm VHF Sơn Trà được thiết lập với mục đích ban đầu để phục vụ công tác điều hành bay cho phân khu I ACC Hồ Chí Minh. Đến năm 2000 triển khai thêm hệ thống VHF để bổ trợ cho các trạm VHF Vinh và VHF Nội Bài. - Hệ thống thiết bị VHF Vinh, Điện Biên, Cát Bi đều dùng thiết bị thu phát công suất 7W. Hệ thống chuyển tiếp điện văn tự động AMSC được đặt tại các trung tâm HAN, DNA, HCM và Trung tâm điều hành chỉ huy bay kết nối sử dụng các phương tiện truyền dẫn nêu trên.

Hệ thống giám sát được cơ cấu bởi các trạm Radar sơ cấp PSR tầm phủ 80 dặm và các trạm Radar thứ cấp SSR tầm phủ 250 dặm có nhiệm vụ thu thập các thông tin tàu bay cung cấp cho các trung tâm xử lý số liệu Radar tại hai FIR. Sơ đồ trạm và tầm phủ được mô tả như hình 1 – 3 dưới đây. Hình 1 – 3: Tầm phủ Radar trên lãnh thổ Việt Nam Dich vụ dẫn đƣờng được cung cấp bởi các đài NDB và VOR/DME trải dài trên các tuyến bay nội địa và quốc tế. Tại các sân bay với yêu cầu cao về lưu lượng có sự TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 phối hợp giữa các đài NDB, hệ thống đèn tín hiệu và các phương tiện hạ cánh ILS lắp đặt tại đường băng.

Dịch vụ cảnh báo, tìm kiếm và cứu nạn SAR được tổ chức thành ba trung tâm chịu sự quản lý trực tiếp bởi VATM, bao gồm: - 2 trung tâm tìm kiếm và cứu nạn tại HAN và HCM. - 1 trung tâm con tại DNA. Các trung tâm trên hoạt động có sự phối hợp cùng các nhà chức trách, các cụm cảng hàng không và trung tâm tìm kiếm cứu nạn quốc gia đảm bảo dịch vụ nhanh nhất trong mọi trường hợp khẩn cấp. Hình 1 – 4: Hệ thống các phương tiện dẫn đường kết hợp 1.

Phân tích đánh giá hiện trạng của hệ thống VHF tại FIR Hà Nội:[1] Do đặc điểm địa hình phần phân khu Bắc rộng có dãy núi Hoàng Liên Sơn chia cắt làm 2 phần, phần phía Tây hẹp nhưng núi non hiểm trở, có nhiều núi cao, phần phía Đông rộng gồm núi cao, đồng bằng, biển. Phân khu Nam hẹp nhưng lại dài. Do TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 20 đặc thù của địa hình nêu trên, nên mặc dù hiện nay, trong FIR Hà Nôị đã lắp đặt 4 trạm VHF (Nội Bài, Tam Đảo, Vinh, Sơn Trà) phục vụ công tác điều hành bay nhưng thực tế cho thấy vùng phủ sóng VHF của các trạm này còn có nhiều hạn chế: - Phân khu Bắc với 2 trạm thu/phát sóng VHF đặt tại Nội Bài và Tam Đảo (Kiểm soát viên không lưu chỉ chọn được một trong hai trạm) cũng đã phủ sóng phần lớn vùng trách nhiệm, tuy nhiên vẫn còn những vùng chưa được phủ sóng như phần phía Tây Bắc nơi có 2 sân bay Nà Sản và Điện Biên trên đường W4, các vùng biển khu vực Hải Phòng, Quảng Ninh, trên đường bay W10 ở các mực bay thấp. - Phân khu Nam với 3 trạm thu/phát sóng VHF đặt tại Nội Bài, Vinh, Sơn Trà trên thực tế tại một thời điểm chỉ phát được trên một trạm VHF.

Hiện nay phân khu Nam được điều hành chính bằng trạm VHF Vinh. Trạm VHF Sơn Trà chỉ để dự phòng trong trường hợp trạm Vinh có sự cố kỹ thuật. Với cách tổ chức hiện nay, tầm phủ sóng VHF của trạm VHF Vinh chưa đảm bảo phủ sóng toàn bộ phân khu Nam. Cụ thể một số đường bay như W20, một phần của đường bay W1, W2, W10.

Vấn đề nhiễu sóng VHF có và không có khả năng khắc phục cũng là điểm cần chú ý. Do việc quản lý về tần số đồng thời phương thức điều chế AM hiện đang dùng là phương thức phổ thông và không có mã hoá chống nhiễu nên còn bị nhiễu tần số tại các vùng cục bộ. Ta chỉ có thể khắc phục tạm thời là sử dụng các tần số dự phòng khác đã đăng ký. Như vậy, hiện trạng của hệ thống trên không thể đảm bảo cho nhu cầu lưu lượng bay hiện nay.

Theo số liệu thống kê thì đối với FIR Hà Nội tính từ năm thành lập 1993 đến năm 2003, tổng số chuyến bay được điều hành đã đạt trên 230000 chuyến (dựa trên báo cáo hàng năm của VATM). Tính từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 30 tháng 9 năm 2009, FIR Hà Nội đã điều hành bay được khoảng 49000 chuyến bao gồm cả quốc tế và quốc nội (được lấy từ số liệu bay của công ty bảo đảm hoạt động bay miền Bắc). Do lưu lượng bay tăng lên, nhu cầu về cung cấp dịch vụ không lưu trên một vùng trời cũng tăng lên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ