ĐẶT VẤN ĐỀ Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) đã được khẳng định là phương cách tốt nhất đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Nhiều bằng chứng hiện nay đã khẳng định thực tế rằng cho con bú là một can thiệp chính cho trẻ sơ sinh và sức khỏe bà mẹ về sự sống còn cả trong ngắn hạn và dài hạn. Phương thức này góp phần đáng kể làm giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh. Trong khi đó, một thách thức lớn là tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn rất thấp.
Theo báo cáo của Viện dinh dưỡng quốc gia năm 2005, chỉ có 32% trẻ sơ sinh và 12% trẻ từ 4 - 6 tháng tuổi được bú mẹ hoàn toàn [23]. Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy vai trò của nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu trong việc ngăn ngừa các bệnh tật và giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ nhỏ. Đặc biệt, cho con bú sớm ngay trong giờ đầu tiên sau sinh là một can thiệp đơn giản, dễ thực hiện mà lại rất hiệu quả trong giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh. Tuy nhiên tỉ lệ này ở Việt Nam hiện nay là rất thấp.
Một nghiên cứu tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội thì tỷ lệ bú sớm sau sinh (BSSS) là 33,8% [7]. Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã khẳng định việc cho con bú sớm và bú mẹ hoàn toàn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: các rào cản về văn hóa, tôn giáo [44]; áp lực của gia đình, quan điểm sai lầm của bà mẹ về thực hành dinh dưỡng cho trẻ nhỏ [32]. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng người chồng có vai trò quan trọng trong hỗ trợ NCBSM nói riêng, chăm sóc trẻ nhỏ nói chung. Hơn một nửa các ông bố cho biết họ giúp vợ làm việc nhà, chăm sóc, cho con ăn uống, trông con và tắm cho con, đôi khi nấu ăn và giặt giũ.
Thực hành NCBSM thành công phụ thuộc đáng kể vào sự hỗ trợ về tâm lý của người chồng và tình cảm của anh ta đối với vợ [47]. Đồng thời NCBSM cũng bị ảnh hưởng tiêu cực khi người chồng không đồng tình với việc cho con bú [38]. Cũng đã có một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ của người cha ở vùng nông thôn. Theo nghiên cứu tại CHILILAB giai đoạn 2010- 2012 cho thấy tỷ lệ người cha biết đúng tên gọi của sữa non, sữa đầu là 37,8%, biết đúng định nghĩa NCBSM hoàn toàn là 49,8%, biết tầm quan trọng của NCBSM đối với trẻ là 50%, biết đúng thời gian NCBSM hoàn toàn là 6 tháng 47,6% [3].
Mặc dù bệnh viện Phụ sản Trung ương (PSTƯ) luôn quan tâm, chú trọng triển khai, phát triển các hoạt động của Bệnh viện Bạn hữu Trẻ em, tuy nhiên tỉ lệ 2 cho con bú sớm trong vòng 1 giờ sau sinh tại đây vẫn thấp với 31%, tỉ lệ không cho con ăn hoặc uống thứ khác trước khi bú mẹ lần đầu là 76,9% [19]. Số liệu này chưa đáp ứng được mục tiêu của lãnh đạo bệnh viện và Bộ Y tế đề ra, đó là tăng tỷ lệ cho con bú sớm trong 1 giờ đầu sau sinh lên 90% và tỉ lệ cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu lên 50% [5]. Vậy lý do nào dẫn đến thực trạng trên? Ngoài các can thiệp y tế ra, liệu vai trò của người cha, người sát cánh bên các bà mẹ, có liên quan hay không tới thực hành cho con BSSS và NCBSM hoàn toàn tại bệnh viện? Chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu về vai trò của người cha đối với thực hành NCBSM tại một bệnh viện lớn, tuyến trung ương cũng như kiến thức, thái độ của họ về vấn đề này. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Kiến thức, thái độ và sự hỗ trợ của người cha trong thực hành nuôi con bằng sữa của các bà mẹ sinh con tại bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2015” để có cơ sở khoa học trả lời cho các câu hỏi sau: Thực trạng thực hành NCBSM tại bệnh viện là như thế nào? Thực trạng kiến thức của người cha tại bệnh viện PSTƯ về vấn đề NCBSM như thế nào? Kiến thức, thái độ và sự hỗ trợ của người cha có liên quan như thế nào với thực hành NCBSM của vợ? Một câu hỏi khác là thái độ, sự hỗ trợ của người cha có chịu ảnh hưởng của kiến thức hay không? Từ đó giúp bệnh viện có bằng chứng để đề xuất thêm những giải pháp, phương cách nhằm nâng cao kiến thức, cải thiện thái độ, sự hỗ trợ của họ với thực hành NCBSM của vợ, góp phần làm tăng tỷ lệ BSSS và NCBSM hoàn toàn tại bệnh viện.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu cụ thể: 1. Mô tả thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ trong thời gian nằm viện của các bà mẹ sinh con tại bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2015. Mô tả kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ, thái độ và sự hỗ trợ của người cha trong thực hành nuôi con bằng sữa mẹ tại bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2015. Xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, sự hỗ trợ của người cha với thực hành nuôi con bằng sữa mẹ tại bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2015.
Xác định mối liên quan giữa sự tiếp cận thông tin y tế với kiến thức của người cha về nuôi con bằng sữa mẹ. Sữa mẹ và nuôi con bằng sữa mẹ 1. Khái niệm về sữa mẹ và nuôi con bằng sữa mẹ Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tốt nhất, hoàn hảo nhất cho sức khỏe, sự tăng trưởng, phát triển của trẻ. Sữa mẹ có đầy đủ tất cả các thành phần dinh dưỡng mà trẻ cần, bao gồm chất béo, đạm, đường, vitamin, muối khoáng và nước.
Các thành phần dinh dưỡng trong sữa mẹ dễ tiêu hóa, hấp thu, có sẵn trong bầu vú mẹ, không mất công chuẩn bị. Trong 6 tháng đầu đời, trẻ chỉ cần bú sữa mẹ là đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ, không cần thêm bất cứ thức ăn, nước uống nào khác [48], [68]. Sữa non là sữa mẹ tiết ra trong vài ngày đầu sau đẻ. Sữa non màu vàng nhạt hoặc đặc sánh.
Sữa non có nhiều kháng thể, tế bào bạch cầu, bảo vệ cơ thể trẻ chống nhiễm khuẩn và dị ứng; có tác dụng xổ nhẹ giúp cho việc tống phân su, trẻ đỡ vàng da; có nhiều vitamin A giúp trẻ chống nhiễm khuẩn và bệnh khô mắt. Các yếu tố phát triển trong sữa non giúp cho bộ máy tiêu hóa trưởng thành chống dị ứng và không dung nạp thức ăn khác. Vì vậy cần cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau đẻ, không cho trẻ ăn bất cứ thức ăn nào khác ngoài sữa mẹ [4]. Sữa trưởng thành: gồm sữa đầu và sữa cuối.
Sữa đầu có mầu hơi xanh. Cho trẻ bú sữa đầu sẽ nhận được một lượng lớn các chất dinh dưỡng và nước. Vì vậy không cần cho trẻ uống thêm nước hoặc bất kỳ đồ uống nào khác trước khi trẻ được 6 tháng tuổi và ngay cả khi trời nóng. Sữa cuối được sản xuất ở cuối bữa có màu trắng hơn vì có nhiều chất béo.
Cần cho trẻ bú kiệt một bên vú rồi mới chuyển sang vú khác để trẻ nhận được sữa cuối nhiều năng lượng [4]. Theo Tổ chức Y tế thế giới và Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc UNICEF, nuôi con bằng sữa mẹ là cách nuôi dưỡng trẻ trong đó trẻ bú trực tiếp sữa mẹ hoặc được nuôi bằng sữa mẹ vắt ra. Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn là chỉ cho con bú mẹ mà không thêm bất kỳ loại thức ăn nước uống nào, ngoại trừ các loại thuốc, vitamin, khoáng chất. Tỷ lệ trẻ được bú sớm sau sinh được tính bằng tỷ số giữa tổng số trẻ dưới 24 tháng tuổi được bú mẹ trong vòng 1 giờ sau sinh trên tổng số trẻ dưới 24 tháng tuổi.
Tỷ lệ trẻ dưới 6 tháng tuổi được bú mẹ hoàn toàn được tính bằng tỷ số giữa số trẻ dưới 6 tháng tuổi được bú mẹ hoàn toàn trong 24 giờ trên tổng số trẻ 5 dưới 6 tháng [72]. Đồng thời, WHO và Hướng dẫn chuẩn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản đã khẳng định cho trẻ bú sớm sau sinh là việc trẻ được bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh [4]. Cách ngậm bắt vú và tƣ thế bú đúng Việc cho con bú mẹ có đảm bảo hiệu quả hay không phụ thuộc phần lớn vào việc thực hành đúng tư thế cho trẻ bú và cách cho trẻ ngậm bắt vú đúng. Tư thế cho con bú đúng là đầu và thân trẻ ở trên một đường thẳng, mặt trẻ đối diện với vú và môi trẻ đối diện với núm vú, thân trẻ sát với mẹ, đồng thời mẹ phải đỡ phía dưới mông trẻ.
Bên cạnh đó, trẻ ngậm bắt vú đúng phải đảm bảo cằm trẻ chạm vào vú mẹ miệng trẻ mở rộng, quầng vú ở phía trên miệng trẻ rộng hơn ở phía dưới, trẻ đưa lưỡi tới phía dưới xoang sữa (quầng thâm của vú) để ép sữa ra, má của trẻ căng phồng [4]. Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ NCBSM là phương pháp nuôi dưỡng tự nhiên gắn liền với sự ra đời và phát triển của con người. Lợi ích của NCBSM không những quan trọng đối với con mà còn rất tốt cho sức khỏe của mẹ. Đối với con, sữa mẹ vô khuẩn, trẻ bú trực tiếp sữa mẹ, giúp trẻ chống lại các bệnh nhiễm khuẩn nhờ các yếu tố kháng khuẩn.
Một số kháng thể truyền từ người mẹ qua rau đến bào thai đã giúp cho trẻ mới đẻ có sức đề kháng và miễn dịch một số bệnh đặc biệt trong 4 - 6 tháng đầu như sởi, cúm, ho gà, vi khuẩn không có điều kiện phát triển nên trẻ ít bị tiêu chảy. Trong sữa mẹ chứa nhiều thành phần kháng khuẩn như Globulin miễn dịch IgA, lactoferin, lysozym, lympho bào và một số thành phần khác. IgA có nhiều trong sữa non và giảm dần trong những tuần sau. IgA không được hấp thu mà hoạt động ngay tại ruột để chống lại một số vi khuẩn như E.coli và virus.
Lactoferin là một protein có gắn sắt có tác dụng kìm khuẩn không cho vi khuẩn cần sắt phát triển. Bên cạnh đó Lysozym là một enzym có tác dụng diệt khuẩn. Lympho bào sản xuất IgA tiết và interferon, có tác dụng ức chế hoạt động của một số virus. Đại thực bào có tính chất thực bào và bài tiết lysozym và lactoferin.
Đại thực bào có thể thực bào Candida và vi khuẩn đặc biệt là những vi 6 khuẩn Gram âm, nguyên nhân gây viêm ruột hoại tử ở trẻ sơ sinh. Yếu tố kích thích sự phát triển của vi khuẩn Lactobacillus bifidus.