Đặt vấn đề Thứ nhất, "đại dịch Covid - 19 xuất hiện trong từ năm 2019 và diễn biến vô cùng phức tạp và dẫn đến nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng". Nền kinh tế toàn cầu hiện đang phục hồi, dần mở cửa trở lại và các chiến dịch tiêm chủng vẫn đang tiếp tục. Nhưng các doanh nghiệp trên thế giới ít nhiều "điêu đứng" vì Covid-19 khi đại dịch vẫn chưa kết thúc. Không những thế, với sự xuất hiện của biến thể Delta, hay gần đây là biến chủng Omicron có khả năng lây lan nhanh và mạnh, cuộc chiến chống Covid - 19 trên thế giới bước sang giai đoạn khác khó khăn hơn.
Làn sóng phá sản của các công ty lớn các doanh nghiệp trên toàn cầu được hình thành từ giữa năm 2020 khi đại dịch Covid- 19 ảnh hưởng đến hầu hết các nước lớn trên thế giới.1: Dự báo tỷ lệ vỡ nợ năm 2023 so với năm 2019 Nguồn: Atradius, 2022 Nhìn vào Hình 1.1, có thể thấy rằng tỷ lệ vỡ nợ sẽ cao nhất ở Hồng Kông (+39%), Vương quốc Anh (+23%), Ý (+23%) và Đan Mạch (+15%) so với mức trước khi đại dịch diễn ra. Thêm vào đó, tỷ lệ này tăng nhẹ tại Ca-na-da, Nam Phi và Cô-lôm-bi-a lần lượt là +9%, +5% và +5%. Ngoài ra, nền kinh tế Pháp (+3%) và Thuỵ Điển (+1%) là gần như không thay đổi. Ngược lại, nền kinh tế Mỹ với mức giảm mạnh, ước tính rằng sẽ giảm 12% so với năm 2019 tại năm 2023.
Thứ hai, "dịch Covid-19 cũng đã tàn phá các doanh nghiệp Việt Nam từ năm 2019". Theo báo cáo "Tác động của Covid-19 đối với doanh nghiệp tại Việt Nam: Khảo sát nhanh về doanh nghiệp và Covid-19" của Ngân hàng Thế giới (2020), có khoảng 50% doanh nghiệp nhỏ và hơn 40% doanh nghiệp vừa phải đóng cửa tạm thời hoặc vĩnh viễn do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Năm 2021, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là gần 55.000, Tăng 18% theo năm; 48,1 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giả thể, tăng 27,8%; 16,7 nghìn doanh nghiệp hoàn The Insovency Growth forecasting in 2023 compared to 2019 -12% UNITED STATES SWEDEN 1% FRANCE 3% COLOMBIA 5% SOUTH AFRICA 5% CANADA 9% DENMARK 15% ITALIA 23% UNITED KINGDOM 23% HONG KONG 39% -20% -10% 0% 10% 20% 30% 40% 50% tất thủ tục giải thể, giảm 4,1%, trong đó có 14,8 nghìn doanh nghiệp có quy mô vốn 3 dưới 10 tỷ đồng, giảm 4%. Có 211 doanh nghiệp có quy mô vốn trên 100 tỷ đồng, giảm 20,7%.
Trung bình mỗi tháng có khoảng 10.000 công ty rời thị trường do không thể "sống chung" với cường độ của đại dịch Covid-19. Thứ ba, với nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh Covid-19 và tình trạng phá sản doanh nghiệp gia tăng, "hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của NHTM đánh giá rủi ro khi vay khách hàng và vô cùng hữu ích khi giúp ngân hàng đưa ra quyết định cho vay, điều này đóng một vai trò quan trọng trong quản lý rủi ro". Các NHTM tại Việt Nam ngày càng hiểu ra được ý nghĩa quan trọng của hệ thống này đối với hoạt động cho vay và quản lý rủi ro, đặc biệt khi các ngân hàng thương mại tại Việt Nam nỗ lực tuân thủ các tiêu chuẩn Basel II. Tính cấp thiết của đề tài Trong bối cảnh đó, tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu này được thể hiện ở một số khía cạnh cụ thể sau: Thứ nhất, "các mô hình xếp hạng tín dụng hiện nay còn một số hạn chế nhất định", còn nhiều ý kiến thảo luận và bất đồng về độ tin cậy của các mô hình xếp hạng tín nhiệm khiến việc lựa chọn mô hình trở nên khó khăn.
Xếp hạng tín dụng là yếu tố ước lượng tốt về xác suất vỡ nợ của các công ty (Huseyin & Bora, 2009). Theo công trình của Aysegul Iscanoglu (2005) và Hayden & Daniel (2010), có nhiều mô hình trong lĩnh vực thẩm định tín dụng đã được nghiên cứu, bao gồm mô hình phân tích biệt thức, mô hình logit (hồi quy logistic), mô hình cây quyết định và mạng nơ ron nhân tạo. (ANN)), các mô hình hồi quy probit. nêu ưu nhược điểm của từng mô hình.
Một số phân tích chi tiết của các mô hình trên đã được thực hiện. Platt (1991) đã sử dụng mô hình logit để kiểm tra và lựa chọn các biến tài chính, đồng thời gợi ý rằng các biến tài chính theo tiêu chuẩn ngành nên được sử dụng trong báo cáo phá sản thay vì chỉ các biến tài chính của công ty. Lawrence (1992) sử dụng mô hình logit để ước lượng xác suất vỡ nợ thế chấp. Altman (1968) đã sử dụng mô hình phân tích vi phân.
4 Thứ hai, "xác định các chỉ số tài chính ảnh hưởng đến kết quả của xếp hạng tín dụng " luôn là mục tiêu và vấn đề nghiên cứu trong nghiên cứu xác suất vỡ nợ". Từ năm 1926 đến 1936, các nhà nghiên cứu đã sử dụng các chỉ số tài chính cơ bản để xếp hạng và nhiều phương pháp khác, chẳng hạn như Ramser & Foster (1931) với Vốn chủ sở hữu/tổng thu nhập thuần hoặc Fitzpatrick (1932) đã sử dụng tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tài sản cố định. Trong giai đoạn tiếp theo, Altman (1968) sử dụng các chỉ số tài chính trong các mô hình phân tích khác nhau để dự đoán khả năng phá sản của doanh nghiệp, bao gồm giá trị vốn chủ sở hữu/giá trị sổ sách của khoản nợ, thu nhập ròng của doanh nghiệp/tổng tài sản, thu nhập hoạt động/tổng tài sản, lợi nhuận sau thuế/tổng tài sản và vốn lưu động/tổng tài sản. Tuy nhiên, sử dụng các mô hình phân tích khác nhau, Deakin (1972) đã chọn 14 biến tài chính: tiền mặt/nợ ngắn hạn, dòng tiền thực/tổng nợ, tiền mặt/doanh thu ròng, tiền mặt/tài sản cố định, khả năng thanh toán hiện tại, tài sản ngắn hạn/ doanh thu thuần, tài sản lưu động/tổng tài sản, thu nhập/tổng tài sản, tài sản có tính thanh khoản cao/nợ ngắn hạn, tài sản có tính thanh khoản cao/doanh thu thuần, tài sản có tính thanh khoản cao/tổng tài sản, tổng nợ/tổng tài sản, vốn lưu động/doanh thu thuần, vốn lưu động /Tổng tài sản.
Theo thời gian trôi qua, các nhà khoa học đã phát hiện ra nhiều chỉ số tài chính có thể ảnh hưởng đến kết quả xếp hạng tín dụng, như Blum (1974) sử dụng tỷ suất lợi nhuận thị trường, tỷ lệ thanh toán nhanh, các biến tài chính của tài sản/hàng tồn kho thanh khoản cao, dòng tiền/tổng nợ, giá trị sổ sách/tổng nợ phải trả, giảm xu hướng lợi nhuận, giảm xu hướng tài sản/hàng tồn kho có tính thanh khoản cao hoặc Back, Laitinen, Sere & Wesel (1996) sử dụng 31 chỉ số khác nhau. Thứ ba, "phương pháp xếp hạng tín nhiệm tại các NHTM Việt Nam còn mang tính chủ quan, định tính và dựa trên kinh nghiệm đánh giá của cán bộ tín dụng trực tiếp phục vụ khách hàng" (phương pháp chuyên gia). Do đó, không có cơ sở khoa học đáng tin cậy nào để ước lượng khả năng phá sản của một doanh nghiệp, mà cơ sở này chỉ hỗ trợ cho việc ra quyết định cho vay chứ không phải là cơ sở để ra quyết định. Cho đến nay, 5 ở Việt Nam có rất ít nghiên cứu được công bố về việc lựa chọn mô hình ước lượng xác suất vỡ nợ của doanh nghiệp dựa trên các chỉ số tài chính.
Thứ tƣ, "chính phủ đã tạo hành lang pháp lý giúp bộ phận xếp hạng tín nhiệm tăng cường tính minh bạch của thông tin, giúp các ngân hàng quản lý rủi ro tín dụng ngay từ đầu, hỗ trợ thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu". Việc nghiên cứu và lựa chọn các mô hình xếp hạng phù hợp sẽ góp phần rất lớn vào sự phát triển của hoạt động xếp hạng tín nhiệm tại Việt Nam. Đặc biệt, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 88/2014/NĐ-CP ngày 26/09/2014, nghị định này quy định về hoạt động kinh doanh dịch vụ xếp hạng và điều kiện hoạt động của các tổ chức xếp hạng hiện có đang hoạt động tại Việt Nam. Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt Kế hoạch phát triển dịch vụ xếp hạng tín nhiệm đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 của Thủ tướng Chính phủ số 507/QĐ-TTg ngày 17/4/2015, việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp phải được xếp hạng từ của năm 2020.
Rõ ràng, một trong những biện pháp quản lý rủi ro, được gọi là lựa chọn mô hình ước lượng xác suất vỡ nợ của công ty trên cơ sở các chỉ số tài chính liên quan, là phân loại khách hàng ngay từ đầu và đo lường nợ phải trả ngân hàng theo khuyến nghị của Uỷ ban Basel. Vì vậy, khoá luận tập trung vào vấn đề "Ƣớc lƣợng xác suất vỡ nợ của khách hàng doanh nghiệp bằng phƣơng pháp học máy" nhằm cung cấp cho các NHTM một cách cơ sở lý luận có hệ thống và bằng chứng thực nghiệm cho việc lựa chọn các mô hình dự báo phá sản doanh nghiệp phù hợp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng trong thời gian tới. Mục tiêu của đề tài Trên cơ sở xác định tiêu chí mô hình dự báo phù hợp và lựa chọn mô hình, nghiên cứu tiến hành lựa chọn mô hình dự báo xác suất vỡ nợ của các doanh nghiệp tại các NHTM ở Việt Nam dựa trên các chỉ số tài chính giai đoạn từ 2020 đến 2022. Giúp các ngân 6 hàng thương mại sàng lọc khách hàng và quản trị rủi ro tín dụng tốt hơn.
Các mục tiêu cụ thể là: Thứ nhất là điều tra xem các chỉ số tài chính nào có tác động lớn đến việc lựa chọn mô hình ước lượng xác suất vỡ nợ để hỗ trợ hệ thống NHTM Việt Nam và các tổ chức xếp hạng tín nhiệm trong việc xác định các khách hàng doanh nghiệp tiềm năng của họ. Thứ hai là điều tra xem mô hình nào là phù hợp nhất cho ước lượng xác suất vỡ nợ của các khách hàng doanh nghiệp trong hệ thống NHTM Việt Nam bằng phương pháp học máy. Thứ ba là nhận ra ảnh hưởng to lớn của các phương pháp học máy đối với việc ước lượng các ước lượng xác suất vỡ nợ của khách hàng doanh nghiệp. Câu hỏi nghiên cứu Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, khoá luận tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu chính: (i) Các chỉ số tài chính nào có ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn mô hình ước lượng xác suất vỡ nợ của doanh nghiệp? (ii) Làm thế nào để phương pháp học máy ảnh hưởng lớn đến việc xác định lại xác xuất vỡ nợ của các doanh nghiệp và mô hình nào mang lại kết quả tốt nhất trong việc ước lượng xác suất vỡ nợ của các doanh nghiệp?