Chương 1 TÔNG QUAN 1. Khái quát về rừng ngập mặn trên thế giới và Việt Nam Rừng ngập mặn (RNM) có thể được tìm thấy ở hơn 118 quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới của thế giới. Các tỷ lệ phần trăm về diện tích lớn nhất của RNM được tìm thấy giữa 5° vĩ Bắc và 5° vĩ Nam. Khoảng 75% RNM trên thế giới được tìm thấy trong chỉ 15 quốc gia.
Châu Á có số lượng RNM lớn nhất (42%) của thế giới, tiếp theo là châu Phi (21%), Bắc và Trung Mỹ (15%), Châu Đại Dương (12%) và Nam Mỹ (11%). Walsh (1974) phân chia thảm cây ngập mặn thế giới thành 2 nhóm chính: Khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương gồm Nam Nhật Bản, Philippines, Đông Nam Á, Án Độ, bờ biển Hồng Hải, Đông Phi, Australia, New Zealand, quần đảo phía Nam Thái Bình Dương tới tận đảo Xamoa; Khu vực Tây Phi và châu Mỹ, bao gồm bờ biển châu Phi phía Dai Tây Dương, quan đảo Galapagos và châu Mỹ. MANGROVE SPECIES k2 3-4 5-8 92 1316) 120 21-25 2635 3640 41-47 Hình 1. Các vùng phân bố RNM (Deltares, 2014) Tổng diện tích RNM thé giới vào khoảng 15.000 ha thuộc châu Á nhiệt đới và châu Đại dương, 5.000 ha ở châu Mỹ nhiệt đới và 3.000 ha thuộc châu Phi.
RNM là những quần xã thực vật hình thành ở vùng ven biển và cửa sông, những nơi bị tác động của thủy triều ở vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới. Trên thé giới có nhiều tên gọi khác nhau về RNM như “rừng ven biển”, “rừng ở vùng thủy triều” và “rừng ngập mặn” (FAO, 1994). Theo Phan Nguyên Hồng (1999), các cây ngập mặn sống ở vùng chuyền tiếp giữa môi trường biên và đất liền, tác động của các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến phân bố của chúng, cây ngập mặn là những cây gỗ và cây bụi thường xanh, thuộc nhiều họ không hè có quan hệ thân thuộc với nhau nhưng có những đòi hỏi như nhau về sinh cảnh. RNM là kiêu thảm thực vật đặc trưng cho vùng ven biên nhiệt đới va á nhiệt đới.
Theo Thái Văn Trừng (1999), giới hạn kiểu phụ thé nhưỡng RNM vào đất mặn bùn lay, bị ngập nước biển hàng ngày hoặc từng thời ky, trong đó có chứa chủ yêu muối NaCl và các loại muối khác với ty lệ ít hơn. Ở Việt Nam, hầu hết các nhà khoa học đều thống nhất tên gọi chung là “RNM” (Ngô Dinh Qué và ctv, 2012). Tại Việt Nam có 29 tinh và thành phố có RNM ven biển chạy suốt từ Mong Cái đến Hà Tiên. Trong đó: có 5 tỉnh ven biển Bắc Bộ: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình; Vùng ven biển Trung Bộ có 14 tỉnh: Thanh Hóa cho đến Bình Thuận; Vùng ven biển Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ có 10 tỉnh: Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, TP.
Hồ Chí Minh, Bến Tre, Tiền Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang. RNM ước tính khoảng 400.000 ha vào năm 1945, tuy nhiên đến năm 2019 báo cáo của Tổng cục Lâm nghiệp cho biết tổng diện tích RNM của cả nước chỉ còn 150. Phần lớn điện tích RNM Việt Nam tập trung ở những khu vực địa điểm phía Nam. Trong đó năm 2022, tổng diện tích RNM tại Đồng bằng sông Cửu Long là 90.
Khu vực Cần Giờ với diện tích có rừng và chưa thành rừng 34.8 13,49 ha, RNM đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa sinh thái, khí hậu, chắn sóng, chống XÓI lở,. Hệ sinh thái RNM Cần Giờ với nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng, không chỉ là tài sản thiên nhiên có giá trị lớn của Việt Nam mà còn là tài sản của nhân loại trong mạng lưới các Khu Dự trữ sinh quyền của thế giới. RNM Cần Giờ còn được xem lá phối xanh của TP. Hồ Chi Minh, là bê chứa carbon, đóng vai trò quan trọng đối với việc cân bằng O2 và CO> trong khí quyền.
Giới thiệu về các loại ảnh viễn thám hiện nay Viễn thám là công nghệ ứng dụng sóng điện từ đề chuyển tải thông tin từ vật cần nghiên cứu tới thiết bị thu nhận thông tin cũng như công nghệ xử lý dé các thông tin thu nhận có ý nghĩa. Mặc dù có rất nhiều định nghĩa khác nhau về công nghệ viễn thám (RS), nhưng mọi định nghĩa đều có nét chung, nhấn mạnh "RS là khoa học thu nhận từ xa các thông tin về các đối tượng, hiện tượng trên trái đất". Theo Barrett và ctv (1976), RS là quan sát về một đối tượng bằng một phương tiện cách xa vật trên một khoảng cách nhất định. Theo Janes (1996), RS là ứng dụng vào việc lay thông tin về mặt dat và mặt nước của trái đất, bằng việc sử dụng các ảnh thu được từ một đầu chụp ảnh sử dụng bức xạ phố điện từ, đơn kênh hoặc đa pho, bức xa hoặc phản xa từ bề mặt trái đất.
Theo Schowengerdt (2006), RS được định nghĩa như là phép đo lường các thuộc tính của đối tượng trên bề mặt trái đất sử dụng dữ liệu thu được từ máy bay và vệ tinh. Theo Lê Văn Trung (2010), RS được định nghĩa như là một khoa học nghiên cứu các phương pháp thu nhận, đo lường và phân tích thông tin của đối tượng (vật thể) mà không có những tiếp xúc trực tiếp với chúng. Ảnh viễn thám từ UAV (Unmanned Aerial Vehicle) Khi phân loại viễn thám theo tầng hoạt động của bộ thu thì chúng ta có các loại như: tầng vệ tinh, tầng máy bay, khinh khí cầu, tang UAV,. Công nghệ bay chụp anh UAV thuộc Viễn thám tang thấp, chủ yếu bay trong khoảng từ vài chục mét đến vài km so với mực nước biên, thu nhận hình ảnh với độ phân giải siêu cao, trong thời gian nhanh và cung cấp kết quả xử lý gần thời gian thực, cho phép chủ động trong công tác bay chụp, thu nhận hình ảnh, chủ động, tranh thủ được thời tiết.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, bản đồ, công nghệ viễn thám bằng thiết bị UAV phục vụ chủ yếu cho giám sát công trình lâm sinh, khảo sát các khu vực có địa hình phức tạp, nhưng nhiều hơn cả là thành lập bản đồ tỷ lệ lớn. Với nhiều công trình đã thực hiện, công nghệ UAV đã chứng tỏ được thế mạnh vượt trội của mình khi so sánh với các công nghệ truyền thống như: tạo ra hình ảnh trực quan, sinh động; cung cấp thông tin nhanh chóng và chính xác; sản phâm phong phú (ảnh trực giao, DSM và DEM, Point cloud, mô hình 3D). Ảnh viễn thám PlanetScope Ảnh viễn thám PlanetScope là một dịch vụ cung cấp hình ảnh viễn thám trái dat từ vệ tinh. Nó được cung cấp bởi công ty Planet Labs, một công ty công nghệ không gian đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực viễn thám toàn cầu.
PlanetScope sử dụng một mạng lưới các vệ tinh nhỏ gọn, được gọi là các CubeSat, dé thu thập dir liệu hình ảnh từ không gian. Mỗi CubeSat trang bị một máy ảnh chất lượng cao và các cảm biến khác đề thu thập thông tin đa dạng về trái đất. Ảnh viễn thám PlanetScope có khả năng thu thập ảnh với độ phân giải cao, thường trong khoảng 3-5 mét, cho phép nhìn rõ chi tiết trên mặt đất. Điều này mang lại lợi ích lớn cho nhiều ngành công nghiệp và ứng dụng khác nhau, bao gồm quản lý tài nguyên môi trường, đô thị hóa, nông nghiệp, quản lý rừng, bién và các hoạt động quân sự.
Công nghệ của PlanetScope cho phép thu thập ảnh viễn thám hàng ngày từ khắp nơi trên trái đất. Điều này tạo ra một nguồn dữ liệu liên tục và cung cấp thông tin cập nhật về tình trạng môi trường, sự biến đồi địa hình và các sự kiện diễn ra trên toàn cầu. Dữ liệu hình ảnh từ PlanetScope có thé được sử dụng dé phân tích đa phạm vi, tạo ra bản đồ, dự báo và giám sat các thay đổi trong tự nhiên và môi trường xã hội. Công nghệ này đóng vai trò quan trọng trong việc theo dõi sử dụng đất, quản lý tài nguyên và hỗ trợ quyết định lĩnh vực lâm nghiệp.
PlanetScope cung cấp ba dạng hình ảnh: (1) Basic Scene, (2) Orrtho Scene và (3) Ortho Tile. Ảnh viễn thám PlanetScope cung cấp dữ liệu hình ảnh trong nhiều band khác nhau. Thông tin về các band chính của ảnh PlanetScope: Band 1 (Blue): Đây là band màu xanh lam, có bước sóng xấp xỉ 455-515 nanomet (nm). Band này thường được sử dụng dé phân biệt các vùng nước và đất, đồng thời có thể hữu ích trong việc phân loại sự phân tán ánh sáng và các hiện tượng địa chất khác.
Band 2 (Green): Band màu xanh lá cây này có bước sóng xấp xỉ 500-590 nm. Nó giúp phân biệt các vùng cây cỏ, rừng xanh và thực vật đất thấp. Các ứng dụng của band này bao gồm nghiên cứu đất, đánh giá tình trạng cây trồng và quản lý tài nguyên. Band 3 (Red): Đây là band màu đỏ với bước sóng xấp xỉ 630-690 nm.
Band này hữu ich trong việc phân loại đất, đo lượng sinh khối cây trồng và phát hiện các sự biến đối trong môi trường. Nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá sức khỏe và mật độ của cây trồng. Band 4 (Near-Infrared): Band gần hồng ngoại này có bước sóng xấp xỉ 780- 860 nm. Nó được sử dung dé đánh giá sức khỏe của cây trồng, phát hiện stress thực vật và giám sát sự phát triển của các hệ sinh thái.
Đồng thời, band này cũng hữu ích trong việc phân biệt các loại đất và nước. Band 8 (Panchromatic): Band Panchromatic bao gồm toàn bộ phạm vi màu sáng, từ khả năng nhìn thấy màu xanh lam đến màu đỏ. Vì không giới hạn bước sóng cụ thé, band này cung cấp chi tiết cao và độ phân giải cao hơn so với các band màu riêng lẻ khác. Nó thường được sử dụng dé tạo bản đồ chi tiết và nhận dạng các đối tượng nhỏ trên mặt dat.
Ảnh viễn thám Sentinel Sentinel là tên của các vệ tinh quan sát trái đất thuộc Chương trình Copernicus của Cơ quan Vũ trụ Châu Âu (ESA) và Liên minh Châu Âu (EU), bao gồm các vệ tinh từ Sentinel-1 đến Sentinel-6, trong đó có cả vệ tinh quang học và vệ tinh radar. Sentinel-1: Vệ tinh này sử dụng công nghệ radar dé thu thập dữ liệu và hình ảnh trong mọi điều kiện thời tiết. Nó được sử dụng dé theo dõi biến, địa hình, địa chắn và giám sát băng tuyết. Sentinel-2: Vệ tinh này cung cấp hình ảnh đa phổ với độ phân giải từ 10-60 mét, giúp theo dõi sự biến đổi của đất, nước, rừng và thảm thực vật.