ĐẶT VẤN ĐỀ: Sóng thần là một loạt các đợt sóng tạo nên khi một thể tích lớn của nước đại dương bị chuyển dịch chớp nhoáng trên một quy mô lớn. Động đất cùng những dịch chuyển địa chất lớn bên trên hoặc bên dưới mặt nước, núi lửa phun và va chạm thiên thạch đều có khả năng gây ra sóng thần. Hậu quả tai hại của sóng thần có thể ở mức cực lớn. Ngày 26 tháng 12 năm 2004, một trận động đất mạnh có cường độ hơn 9,0 độ Richter ngoài khơi đảo Sumatra, Indonesia đã tạo ra sóng thần có độ cao hơn 12m tại nhiều khu vực làm thiệt mạng hơn 283.000 người ở các vùng bờ Ấn Độ Dương và làm cho hơn 1.000 người mất nhà cửa.
Trận sóng thần xảy ra vào ngày 7 tháng 8 năm 1998 tại Papua New Guinea cũng đã làm chết 2.182 người và hơn 500 người mất tích. Nghiên cứu về sóng thần là một trong những công việc quan trọng và cần thiết nhằm phòng tránh và giảm nhẹ thiệt hại do sóng thần gây ra. Sóng thần diễn biến rất khác biệt tùy theo kiểu sóng, chúng chứa năng lượng cực lớn, lan truyền với tốc độ cao và có thể vượt khoảng cách lớn qua đại dương mà chỉ mất rất ít năng lượng. Một trận sóng thần có thể gây ra thiệt hại trên bờ biển cách hàng nghìn cây số nơi nó phát sinh, vì thế chúng ta có thể có thời gian chuẩn bị từ khi nó hình thành tới lúc ập vào bờ biển, nó xuất hiện một thời gian khá dài sau khi sóng địa chấn hình thành từ nơi xảy ra sự kiện lan tới.
Năng lượng trên mỗi mét dài trong sóng tỷ lệ với nghịch đảo của khoảng cách từ nguồn phát. Sóng thần không thể được dự đoán một cách hoàn toàn chính xác, nhưng có những dấu hiệu có thể báo trước một đợt sóng thần sắp xảy ra, và nhiều hệ thống đang được phát triển và được sử dụng để giảm thiểu những thiệt hại do sóng thần gây ra. Riêng ở Việt Nam, một số đề tài nghiên cứu theo hướng này đã được tiến hành đem lại những kết quả đánh giá bước đầu về nguy cơ có sóng thần ở vùng bờ biển Việt Nam. Một kết luận quan trọng từ các nghiên cứu này là: ở khu vực Ðông Nam Á có hai vành đai động đất lớn thường gây ra các thảm hoạ động đất và sóng thần, đó là các siêu đới hút chìm máng biển Sumatra kéo dài từ phía rìa Tây Bắc Ứng dụng mô hình toán số TELEMAC 2D nghiên cứu sư lan truyền sóng thần tại một vị trí giả định ngoài khơi biển Đông lên khu vực Sài Gòn-Đồng Nai HVTH: Nguyễn Duy Mão Trang 2 GVHD: PGS.TS Nguyễn Thống Ðông Nam Á tới phía Đông đảo Timor, và đới hút chìm máng biển Phillippin.
Khu vực Đông Nam Á nói chung và Biển Ðông Việt Nam nói riêng có cấu trúc kiến tạo và lịch sử phát triển địa động lực rất độc đáo và phức tạp. Vành đai động Đông Nam Á trên thực tế có cấu trúc rất phức tạp, bao gồm các mảng và tiểu mảng có nguồn gốc khác nhau. Chúng hoặc thuộc về lục địa châu Á, hoặc là các mảnh vỏ phiêu di từ phía Ấn-Úc hoặc Thái Bình Dương. Sự tồn tại và phát triển của các đới tích cực vành đai động Đông Nam Á là các nguồn có khả năng gây động đất và sóng thần mạnh.
TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU: 1. Khu vực biển Đông: 1. Vị trí địa lý: Vùng Biển Đông Việt Nam là một biển rìa của Thái Bình Dương và là một biển nửa kín bao bọc xung quanh bởi các rìa lục địa, đảo, quần đảo. Trải rộng từ 30 đến 260 vĩ bắc và từ 1000 đến 1210 kinh đông và bao phủ một diện tích khoảng 3.
Ngoài Việt Nam, Biển Đông được bao bọc bởi tám nước khác là Trung Quốc, Philippin, Indonesia, Bruney, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia. Theo ước tính sơ bộ, Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của khoảng 300 triệu người dân của các nước này. Biển Đông không chỉ là địa bàn chiến lược quan trọng đối với các nước trong khu vực mà còn cả của châu Á - Thái Bình Dương và Mỹ. Ứng dụng mô hình toán số TELEMAC 2D nghiên cứu sư lan truyền sóng thần tại một vị trí giả định ngoài khơi biển Đông lên khu vực Sài Gòn-Đồng Nai HVTH: Nguyễn Duy Mão Trang 3 GVHD: PGS.TS Nguyễn Thống Hình.1: Khu vực biển Đông (nguồn Gebco) 1.
Đặc điểm khí hậu: Biểu Đông nằm trong vùng khí hậu biển nhiệt đới, được chia thành hai vùng khí hậu là vùng Bắc biển Đông và Nam biển Đông. a) Khí hậu bắc Biển Đông: Có vĩ độ tương đối cao, song mùa đông ở vùng biển bắc Biển Đông tương đối ấm. Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất chỉ đạt 23-240C, cao hơn đất liền cùng vĩ tuyến tới 3-40C. Trong chế độ mưa, có sự phân chia mùa phù hợp với chế độ gió mùa.
Mùa mưa trùng gió mùa mùa hạ và mùa mưa ít trùng với gió mùa mùa đông. Song trong mùa mưa ít, trung bình mỗi tháng cũng đạt 20-40 mm với số ngày mưa là 5-10 ngày. Ứng dụng mô hình toán số TELEMAC 2D nghiên cứu sư lan truyền sóng thần tại một vị trí giả định ngoài khơi biển Đông lên khu vực Sài Gòn-Đồng Nai HVTH: Nguyễn Duy Mão Trang 4 GVHD: PGS.TS Nguyễn Thống Lượng mưa như vậy không quá ít. Trong mùa mưa, lượng mưa tập trung nhiều vào nửa cuối mùa hạ, từ tháng VIII đến tháng XI, trong đó tháng X có lượng mưa trội nhất.
Tổng lượng mưa năm trung bình chỉ đạt khoảng 1200mm. Một đặc điểm khí hậu biển nhiệt đới rất đáng chú ý là vùng bắc Biển Đông là nơi các cơn bão từ Thái Bình Dương hoặc từ chính Biển Đông thường đi qua trong mùa hạ, và di chuyển về hướng tây tốc độ gió bão ở vùng này có thể đạt và vượt quá 30m/s, gây tàn phá ghê gớm. Tần suất xuất hiện bão tương đối lớn. b) Khí hậu nam Biển Đông: Nhiệt độ luôn luôn cao, ổn định và biến thiên theo mùa không lớn.
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 26,5 - 27,0 0C. Trong biến trình năm có hai cực đại chính xảy ra vào tháng IV với giá trị 27,60C, cực đại thứ hai xẩy ra vào tháng IX với giá trị 27,00C. Giá trị cực tiểu là 25,50C xẩy ra vào tháng II, chậm pha hơn trên đất liền một tháng do tính chất đại dương. Như vậy biên độ năm của nhiệt độ chỉ vào khoảng 20C, tương ứng điều kiện khí hậu xích đạo.
Lượng mưa tương đối cao và có sự phân chia mùa rõ rệt. Lượng mưa trung bình năm trên các đảo Trường Sa là 2000 mm và số ngày mưa lớn hơn 150 ngày trong năm. Hàng năm, mùa mưa bắt đầu cùng với gió mùa mùa hạ (vào tháng V) nhưng kết thúc muộn nửa đầu mùa đông (vào tháng XII). Mưa kéo dài 8 tháng và có thể phân biệt được hai thời kỳ nhiều mưa vào đầu và cuối mùa, xen giữa là một thời kỳ ngắn tương đối ít mưa vào khoảng tháng VIII.
Thời kỳ nhiều mưa nhất là các tháng X, XI, XII có lượng mưa gần như nhau từ 250-300mm/tháng mà thường tháng XI có lượng mưa lớn hơn. Tháng VII và tháng IX có lượng mưa vượt quá 200mm. Trong suốt 5-6 tháng giữa mùa mưa, số ngày mưa ở mức xấp xỉ 20 ngày mỗi tháng. Ở phần phía nam Biển Đông quan trắc thấy ít bão hơn nhiều so với phần phía bắc.
Theo số liệu thống kê, trung bình mỗi năm chỉ có 13 cơn bão đi ngang qua vùng biển này. Thời gian bão đi qua đây muộn hơn so với phần phía bắc.Tháng nhiều bão nhất là tháng IX (5 cơn) rồi đến tháng X và XII (mỗi tháng 3 cơn). Tháng Ứng dụng mô hình toán số TELEMAC 2D nghiên cứu sư lan truyền sóng thần tại một vị trí giả định ngoài khơi biển Đông lên khu vực Sài Gòn-Đồng Nai HVTH: Nguyễn Duy Mão Trang 5 GVHD: PGS.TS Nguyễn Thống IX và tháng VII cũng có khả năng gặp bão nhưng rất ít. Cũng có thể nhận xét bão hoạt động ở vùng nam Biển Đông thường có cường độ yếu hơn so với các cơn bão hoạt động ở vùng phía Bắc.
Đặc điểm địa hình a) Địa hình sườn lục địa Biển Đông Tiếp theo địa hình thềm lục địa là sườn lục địa hẹp hơn, dốc hơn và sâu hơn. Độ dốc chung của sườn lục địa luôn biến động trong giới hạn hạn rất rộng từ vài độ tới vài chục độ, độ sâu từ 150 – 3000 m. Về cấu trúc, sườn lục địa có cấu trúc mặt của lớp vỏ lục địa hoặc á lục địa. Ngoài các tướng trầm tích lục nguyên, sườn lục địa Biển Đông xuất hiện các phun trào bazan và các thành tạo san hô.
Lớp granit ở đây không dày và thay đổi từ 8 – 10 km. Sườn lục địa là hệ quả của các quá trình đoạn tầng do các đứt gãy kinh tuyến và á kinh tuyến và các khối nâng. Trên sườn lục địa Biển Đông có khoảng 16 kiểu địa hình chủ yếu. Trong đó phổ biến các kiểu đồng bằng bằng phẳng, đồng bằng trũng lòng chảo biển sâu hoặc trũng kéo dài, thung lũng tích tụ giữa núi hoặc máng trũng tích tụ, các cao nguyên san hô gắn liền với các khối nhô lục địa sót.
b) Địa hình chân lục địa Biển Đông Chân lục địa Biển Đông là một dải hẹp bị gián đoạn, phân bố dưới chân sườn lục địa ở độ sâu 2500 – 4000 m. Địa hình chân lục địa tương đối bằng phẳng, dộ dốc trung bình 0. Chúng thường là các đồng bằng tích tụ trên các trũng có lớp trầm tích dày 1 –4 km. Cấu trúc vỏ granit bị vát mỏng từ 2 – 3 km đến hầu như biến mất hoàn toàn khi tiếp giáp với trũng sâu Biển Đông.
Là một đới chuyển tiếp nơi xuất hiện các vạt gấu tích tụ hoặc các nón khoáng vật do các canhon ngầm đưa vật liệu từ trên sườn xuống. Trên bề mặt chân lục địa Biển Đông người ta đã phát hiện bốn kiểu địa hình chủ yếu như: Đồng bằng nghiêng tích tụ chân sườn phát triển ven rìa đới tách giãn phân bố ở khu vực tiếp giáp sườn lục địa với trũng biển sâu ở khu vực miền Trung. Đồng bằng dạng lòng máng, phân bố ở ngoài của dải trũng giữa Ứng dụng mô hình toán số TELEMAC 2D nghiên cứu sư lan truyền sóng thần tại một vị trí giả định ngoài khơi biển Đông lên khu vực Sài Gòn-Đồng Nai HVTH: Nguyễn Duy Mão Trang 6 GVHD: PGS.TS Nguyễn Thống quần đảo Hoàng Sa và bãi ngầm Maulesfield.