ỨNG DỤNG MÔ HÌNH F-SCORE ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ THAO TÚNG LỢI NHUẬN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Nghiên cứu ứng dụng mô hình F-Score để đo lường mức độ thao túng lợi nhuận trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Phân tích và đánh giá chi tiết.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Kế toán, Kiểm toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở

2021

124
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU THAO TÚNG LỢI NHUẬN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH

1.1. Cơ sở lý thuyết về hành vi thao túng lợi nhuận trong báo cáo tài chính

1.1.1. Các quan điểm về hành vi thao túng lợi nhuận

1.1.2. Mục đích của thao túng lợi nhuận trong BCTC

1.1.3. Các lý thuyết về thao túng lợi nhuận

1.1.4. Một số kỹ thuật thực hiện thao túng lợi nhuận

1.2. Tổng quan nghiên cứu về thao túng lợi nhuận

1.2.1. Chất lượng thông tin lợi nhuận và các yếu tố quyết định chất lượng thông tin lợi nhuận

1.2.2. Phản ứng của nhà đầu tư với thông tin lợi nhuận trong BCTC

1.2.3. Quản trị công ty và hành vi thao túng lợi nhuận

1.2.4. Vấn đề đạo đức trong hành vi thao túng lợi nhuận

1.2.5. Vai trò của kiểm toán độc lập trong phát hiện thao túng lợi nhuận

1.2.6. Đo lường thao túng lợi nhuận

1.3. TÓM TẮT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp nghiên cứu

2.1.1. Phương pháp nghiên cứu định tính

2.1.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng

2.2. Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

2.2.1. Đặc điểm quản trị và thao túng lợi nhuận

2.2.2. Mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu và thao túng lợi nhuận

2.2.3. Mối quan hệ giữa các yếu tố kiểm toán bên ngoài và thao túng lợi nhuận

2.2.4. Mô hình nghiên cứu

2.3. TÓM TẮT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ THAO TÚNG LỢI NHUẬN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOẢN VIỆT NAM

3.1. Kết quả thống kê mô tả

3.2. Phân tích tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu

3.3. Phân tích kết quả hồi quy mô hình nghiên cứu

3.4. TÓM TẮT CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ VỀ THAO TÚNG LỢI NHUẬN TẠI VIỆT NAM

4.1. Bình luận kết quả nghiên cứu

4.2. Một số khuyến nghị

4.2.1. Khuyến nghị về việc nâng cao chất lượng thông tin lợi nhuận kế toán

4.2.2. Khuyến nghị về vai trò của kiểm toán độc lập

4.2.3. Khuyến nghị với người sử dụng thông tin tài chính

4.2.4. Khuyến nghị với các doanh nghiệp

4.3. Hạn chế của nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan Vì sao cần ứng dụng F Score đo lường thao túng lợi nhuận

Lợi nhuận là một chỉ số quan trọng, phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp. Thông tin về lợi nhuận đóng vai trò then chốt trong quyết định đầu tư. Tuy nhiên, các nhà quản trị có thể điều chỉnh lợi nhuận để đạt được mục tiêu chủ quan. Tại Việt Nam, chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) còn nhiều bất cập do quy định công bố thông tin và chế tài xử lý chưa đủ mạnh. Việc xác định các công ty gian lận BCTC gặp khó khăn. Vì vậy, việc ứng dụng mô hình F-Score để đo lường và phát hiện thao túng lợi nhuận trở nên cần thiết. Mô hình này giúp người sử dụng thông tin tài chính đưa ra quyết định đầu tư sáng suốt hơn. Hơn nữa, F-Score có thể được sử dụng để đánh giá chất lượng BCTC của một công ty hoặc một nhóm công ty, so sánh với số liệu chung của ngành qua từng thời kỳ.

1.1. Vai trò của lợi nhuận trong quyết định đầu tư và Báo cáo tài chính

Lợi nhuận không chỉ là mục tiêu quan trọng mà còn là thước đo hiệu quả của một doanh nghiệp. Các nhà đầu tư dựa vào lợi nhuận để đánh giá tiềm năng và đưa ra quyết định đầu tư. Báo cáo tài chính cung cấp thông tin chi tiết về lợi nhuận, nhưng tính trung thực của thông tin này có thể bị ảnh hưởng bởi hành vi thao túng lợi nhuận.

1.2. Thực trạng thao túng lợi nhuận trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Tại Việt Nam, việc kiểm soát và đánh giá độ tin cậy của BCTC gặp nhiều thách thức. Các quy định về công bố thông tin và chế tài xử lý vi phạm chưa đủ mạnh để răn đe hành vi thao túng lợi nhuận. Việc tìm kiếm thông tin chính thống về các công ty có gian lận BCTC cũng rất khó khăn. Do đó, cần có các công cụ và phương pháp hiệu quả để phát hiện và đo lường thao túng lợi nhuận.

II. Tổng hợp Các mô hình đo lường thao túng lợi nhuận phổ biến hiện nay

Nhiều nghiên cứu đã xây dựng mô hình đánh giá để đo lường mức độ thao túng lợi nhuận. Mô hình Jones (1991) gồm hai biến là chênh lệch doanh thu và giá trị còn lại của bất động sản, nhà xưởng, thiết bị. Tuy nhiên, Jones cho rằng doanh thu được thao túng lợi nhuận là phần không thể điều chỉnh được. Mô hình M-score của Beneish (1999) sử dụng tám biến tài chính để tính toán khả năng có thao túng lợi nhuận. Tuy nhiên, mô hình này có thể dẫn đến sai sót phân loại. Dechow, Sloan and Sweeney (1995) cải tiến mô hình Jones bằng cách bổ sung sự thay đổi của tài khoản nợ phải thu. Kothari, Leone and Wasley (2005) bổ sung biến về kết quả hoạt động kinh doanh trên tổng tài sản vào mô hình Jones (1991).

2.1. Ưu điểm và hạn chế của mô hình Jones 1991 trong phát hiện thao túng lợi nhuận

Mô hình Jones là một trong những mô hình đầu tiên được sử dụng để đo lường thao túng lợi nhuận. Tuy nhiên, mô hình này có một số hạn chế, chẳng hạn như giả định rằng một phần doanh thu là không thể điều chỉnh. Điều này có thể không chính xác trong thực tế, khi các nhà quản lý có thể sử dụng các khoản phải thu để điều chỉnh lợi nhuận.

2.2. So sánh mô hình M score của Beneish và các mô hình đo lường thao túng lợi nhuận khác

Mô hình M-score của Beneish sử dụng nhiều biến tài chính hơn mô hình Jones, giúp tăng độ chính xác trong việc phát hiện thao túng lợi nhuận. Tuy nhiên, M-score cũng có thể dẫn đến sai sót phân loại, phân loại nhầm công ty có thao túng lợi nhuận thành không có hoặc ngược lại. Cần kết hợp với các mô hình đo lường khác để có kết quả chính xác hơn.

III. Ứng dụng F Score Cách đo lường hiệu quả thao túng lợi nhuận trên TTCK

Mô hình F-Score của Dechow và cộng sự (2011) được coi là có khả năng đánh giá toàn diện hơn so với một số mô hình khác như Kasnizh (1999) hay M-score của Beneish (1999). F-score là mô hình phát hiện sự thao túng trong báo cáo tài chính hữu hiệu, đánh dấu khoanh vùng rủi ro từ đó sàng lọc những điểm bất thường trên báo cáo tài chính. Mô hình này sử dụng thông tin tài chính như thay đổi khoản phải thu khách hàng, thay đổi hàng tồn kho, tài sản ngắn hạn, thay đổi trong doanh thu bằng tiền, thay đổi tỷ suất sinh lợi trên tài sản để đánh giá thao túng lợi nhuận trong BCTC.

3.1. Phân tích các yếu tố cấu thành mô hình F Score và ý nghĩa của từng yếu tố

Mô hình F-Score bao gồm nhiều yếu tố tài chính quan trọng, như thay đổi khoản phải thu, hàng tồn kho, tài sản ngắn hạn, doanh thu bằng tiền và tỷ suất sinh lợi trên tài sản. Mỗi yếu tố này đều có ý nghĩa riêng trong việc đánh giá thao túng lợi nhuận. Ví dụ, sự gia tăng đột biến trong khoản phải thu có thể là dấu hiệu của việc ghi nhận doanh thu không thực tế.

3.2. Ưu điểm của F Score so với các mô hình phát hiện thao túng lợi nhuận khác

F-Score được đánh giá cao hơn so với các mô hình khác vì khả năng đánh giá toàn diện và hiệu quả trong việc sàng lọc các điểm bất thường trên BCTC. Mô hình này không chỉ tập trung vào một vài chỉ số mà xem xét nhiều khía cạnh khác nhau của báo cáo tài chính, giúp tăng độ chính xác trong việc phát hiện thao túng lợi nhuận.

IV. Hướng dẫn Ứng dụng F Score kết hợp yếu tố phi tài chính tăng độ chính xác

Ngoài các nghiên cứu sử dụng thông tin tài chính, một số nhà nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ của đặc điểm quản trị công ty với thao túng lợi nhuận. Nghiên cứu cho thấy mức độ thao túng lợi nhuận có liên quan tích cực đến quy mô của hội đồng quản trị. Các đặc điểm về quản trị doanh nghiệp như số lượng các cuộc họp của hội đồng quản trị, giám đốc điều hành được thuê ngoài, quyền sở hữu có ảnh hưởng đến thao túng lợi nhuận. Nghiên cứu của tác giả mở rộng mô hình F-score, đưa thêm một số biến tài chính, phi tài chính khác vào mô hình để đánh giá mức độ thao túng lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam.

4.1. Tầm quan trọng của yếu tố quản trị công ty trong việc đánh giá thao túng lợi nhuận

Quản trị công ty đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát và ngăn chặn hành vi thao túng lợi nhuận. Các yếu tố như quy mô và thành phần của hội đồng quản trị, số lượng cuộc họp và quyền sở hữu có thể ảnh hưởng đến mức độ thao túng lợi nhuận trong doanh nghiệp.

4.2. Mở rộng mô hình F Score với các biến phi tài chính Giới tính quy mô tỷ lệ sở hữu

Việc mở rộng mô hình F-Score bằng cách thêm các biến phi tài chính như giới tính của nhà quản lý tài chính, quy mô hội đồng quản trị và tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài có thể cải thiện độ chính xác trong việc đánh giá thao túng lợi nhuận. Các yếu tố này có thể cung cấp thêm thông tin về động cơ và khả năng thao túng lợi nhuận của doanh nghiệp.

V. Nghiên cứu Kết quả ứng dụng F Score tại thị trường chứng khoán Việt Nam

Nghiên cứu được thực hiện nhằm cung cấp phương pháp và mô hình có thể sử dụng để đo lường mức độ thao túng lợi nhuận của các doanh nghiệp tại Việt Nam, là cơ sở để người sử dụng thông tin đánh giá về tính trung thực của BCTC. Nghiên cứu xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến thao túng lợi nhuận, chú trọng đến nhóm yếu tố về sở hữu, đặc điểm quản trị công ty và kiểm toán bên ngoài. Nghiên cứu đánh giá mức độ thao túng lợi nhuận của doanh nghiệp và tính chính xác của mô hình nghiên cứu về thao túng lợi nhuận tại các doanh nghiệp ở Việt Nam dựa trên mô hình nghiên cứu về thao túng lợi nhuận và dữ liệu của 25 doanh nghiệp.

5.1. Mục tiêu của nghiên cứu về ứng dụng F Score tại thị trường chứng khoán Việt Nam

Nghiên cứu nhằm cung cấp một phương pháp đáng tin cậy để đo lường thao túng lợi nhuận tại Việt Nam, giúp người sử dụng thông tin đánh giá tính trung thực của BCTC. Ngoài ra, nghiên cứu cũng xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến thao túng lợi nhuận, đặc biệt là các yếu tố liên quan đến quản trị công ty và kiểm toán.

5.2. Phương pháp nghiên cứu Phỏng vấn chuyên gia thu thập dữ liệu và phân tích hồi quy

Nghiên cứu sử dụng cả phương pháp định tính và định lượng. Các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính kế toán, kiểm toán viên và nhà quản trị doanh nghiệp được phỏng vấn để thu thập thông tin về động cơ và yếu tố ảnh hưởng đến thao túng lợi nhuận. Dữ liệu tài chính và phi tài chính của 218 doanh nghiệp được thu thập và phân tích bằng phương pháp hồi quy để xác định mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến thao túng lợi nhuận.

VI. Đề xuất Nâng cao chất lượng thông tin giảm thiểu thao túng lợi nhuận

Kết quả nghiên cứu cung cấp cho các cơ quan quản lý có thể thấy được tác động của chính sách kế toán đến chất lượng BCTC trong những thời kỳ có sự thay đổi trong biểu mẫu hoặc cách tính các chỉ tiêu trên BCTC. Qua đó, đề xuất các kiến nghị với các cơ quan quản lý nhằm tăng cường tính minh bạch của thông tin tài chính công bố. Cần có các biện pháp phòng ngừa thao túng lợi nhuận trong doanh nghiệp: Tăng cường quản trị công ty, nâng cao chất lượng kiểm toán.

6.1. Kiến nghị cho cơ quan quản lý Cải thiện chính sách kế toán tăng tính minh bạch

Các cơ quan quản lý nên xem xét tác động của các chính sách kế toán đến chất lượng BCTC và có những điều chỉnh phù hợp để tăng cường tính minh bạch của thông tin tài chính. Cần có các quy định rõ ràng và chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với hành vi thao túng lợi nhuận.

6.2. Giải pháp cho doanh nghiệp Quản trị công ty tốt kiểm toán độc lập trung thực

Doanh nghiệp cần tập trung vào việc xây dựng hệ thống quản trị công ty hiệu quả, đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Việc lựa chọn công ty kiểm toán độc lập, có uy tín và tuân thủ các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cũng rất quan trọng để đảm bảo tính trung thực của BCTC.

26/04/2025
Ứng dụng mô hình f score đo lường mức độ thao túng lợi nhuận trên thị trường chứng khoán việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU THAO TÚNG LỢI NHUẬN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.1 Cơ sở lý thuyết về hành vi thao túng lợi nhuận trong báo cáo tài chính 1.1 Các quan điểm về hành vi thao túng lợi nhuận Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra. Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động khác, là chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp. Lợi nhuận là một chỉ tiêu quan trọng nhất trong BCTC của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp luôn cố gắng để gia tăng lợi nhuận.

Lợi nhuận là dấu hiệu trực tiếp cho các quyết định đầu tư trên thị trường vốn. Thực tế, lý thuyết về giá trị cổ phiếu của một doanh nghiệp nằm ở giá trị lợi nhuận trong tương lai của doanh nghiệp. Gia tăng về lợi nhuận công bố càng làm gia tăng giá trị doanh nghiệp và ngược lại. Các nhà quản lý doanh nghiệp nhận thức được lợi ích quan trọng của việc trình bày thông tin lợi nhuận trong báo cáo tài chính.

Điều đó giải thích tại sao những người có trách nhiệm hiểu được vai trò của lựa chọn kế toán vì họ có thể đưa ra quyết định tốt nhất cho công ty. Nói cách khác, họ phải thực hiện hành vi thao túng lợi nhuận. Thao túng lợi nhuận là việc làm thay đổi số liệu lợi nhuận được thực hiện thông qua hành vi điều chỉnh doanh thu và chi phí bằng các kỹ thuật kế toán để báo cáo tài chính thể hiện một cái nhìn tích cực về hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của công ty. Việc điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp rất đa dạng.

Các phương pháp kế toán về doanh thu, chi phí, ghi nhận tài sản hay nợ phải trả đều làm thay đổi những con số trên BCTC. Có một số định nghĩa xung quanh chủ đề thao túng lợi nhuận. Ronen & Yaari, (2008) đã tóm tắt ba xu hướng khác nhau khi xác định thao túng lợi nhuận. Loại thứ nhất, cho rằng thao túng lợi nhuận cải thiện lợi ích của các báo cáo tài chính, trong khi loại thứ hai, cho rằng việc thao túng lợi nhuận tạo ra “sự trình bày sai và gian lận” trong các báo cáo này.

Và loại cuối cùng, là thao túng kế toán để xây dựng triển vọng kinh doanh tươi sáng của công ty. Định nghĩa do Healy & Wahlen, (1999) đưa ra là thao túng lợi nhuận hay thao túng lợi nhuận là hoạt động của nhà quản lý xoay quanh việc “đánh giá trong báo cáo tài chính và cấu trúc các giao dịch” trên báo cáo tài chính nhằm “đánh lừa một số bên liên quan về kết quả hoạt động kinh tế cơ bản” hoặc “ảnh hưởng đến kết quả hợp đồng” 6 Người thực hiện công việc kế toán chịu nhiều áp lực phải bỏ qua các quy định để thao túng lợi nhuận thông qua “chế biến sổ sách”. Một cuộc khảo sát năm 1998 của tạp chí CFO cho thấy, trong số 78% các nhà quản lý tài chính (CFO) được khảo sát, 45% nhóm này trả lời là có trình bày sai thông tin tài chính, 38% trả lời là họ tuân thủ các quy định về lập và trình bày thông tin tài chính. Áp lực lớn trong việc báo cáo lợi nhuận tốt hơn cũng được đề cập trong một hội thảo tương tự của Business Week CFO.

Nghiên cứu cũng chỉ ra 55% các CFO được hỏi có trình bày sai kết quả tài chính và 17% CFO được hỏi đã trả lời là tuân thủ các quy định. Có rất nhiều quan điểm về thao túng lợi nhuận: Thao túng lợi nhuận là quá trình mà ban giám đốc có thể có khả năng thao túng các báo cáo tài chính để thể hiện những gì họ muốn xảy ra trong kỳ hơn là những gì đã thực sự xảy ra (Scott, 2009). Thao túng lợi nhuận xảy ra trong tình huống mà các nhà quản lý cố gắng trình bày một bức tranh tài chính thuận lợi hơn về hoạt động của công ty thông qua các khoản điều chỉnh. Các nhà quản lý sử dụng các nguyên tắc kế toán linh hoạt để thao túng lợi nhuận (Jiraporn, Kim và Nemec, 2004).

Thao túng lợi nhuận là các hoạt động cố ý thay đổi báo cáo tài chính để đánh lừa cổ đông hoặc các bên liên quan khác, đó là nỗ lực của các nhà quản lý nhằm đạt được các ngưỡng lợi nhuận cụ thể (Degeorge và cộng sự, 1999). Mulford và Comiskey (2005) cho rằng lợi nhuận được coi là chỉ số quan trọng nhất của những con số kế toán, do đó tất cả các loại thao tác của kế toán đều liên quan đến lợi nhuận của công ty… Định nghĩa phổ biến và rộng rãi nhất là do Healy và Wahlen đưa ra năm 1999. Theo đó, “thao túng hay điều tiết lợi nhuận (earnings management) xảy ra khi các nhà quản trị sử dụng những xét đoán của họ trong quá trình lập báo cáo tài chính và trong việc thiết kế các giao dịch kinh tế nhằm bóp méo số liệu báo cáo hoặc làm cho các bên có liên quan hiểu sai về kết quả hoạt động kinh doanh thực của công ty, hoặc để tác động đến số liệu kế toán báo cáo về các kết quả theo hợp đồng giữa các bên”. Các định nghĩa trên cho thấy thao túng lợi nhuận là việc làm thay đổi số liệu lợi nhuận, được thực hiện thông qua sự lựa chọn các chính sách kế toán, hoặc các hành động cố ý ảnh hưởng đến lợi nhuận của nhà quản trị.

Thao túng lợi nhuận có thể dẫn đến việc trình bày sai thông tin tài chính của doanh nghiệp do đó ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của các nhà đầu tư. Đối với nhóm các nhà đầu tư nhỏ lẻ chủ yếu chỉ có quyền mua – bán cổ phiếu, hoạt động tạị Đại hội đồng cổ đông không đáng kể. Đối với nhóm các nhà đầu tư nước ngoài, do rào cản ngôn ngữ, các quy định pháp lý nên việc doanh nghiệp thao túng lợi nhuận ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của họ. Như vậy, điều quan trọng là các nhà đầu tư, các nhà phân tích và những người sử dụng BCTC phải biết cách để phát hiện ra những “phương pháp” kế toán này càng sớm càng tốt để 7 tránh những bất ngờ về lợi nhuận âm hay khả năng giảm giá cổ phiếu của doanh nghiệp.2 Mục đích của thao túng lợi nhuận trong BCTC Trong các thông tin trên BCTC thì thông tin lợi nhuận được nhà đầu tư quan tâm nhiều nhất và cũng là thông tin mà nhà quản lý có xu hướng tác động vào nhiều nhất.

Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời gian nhất định như quý hoặc năm tài chính. Biến động lớn về doanh thu hoặc chi phí ảnh hưởng đến chỉ tiêu lợi nhuận. Tuy nhiên, những thay đổi này có thể “báo động” cho các nhà đầu tư khi mà họ luôn muốn nhìn thấy sự ổn định và tăng trưởng của công ty. Sau khi công bố lợi nhuận, thường thì giá cổ phiếu của các công ty sẽ tăng hoặc giảm tùy thuộc vào việc lợi nhuận đó có đáp ứng hoặc giảm so với kỳ vọng của các nhà đầu tư hay không.

Giáo sư Ilia Dichev và Shiva Rajgopal đã tiến hành khảo sát 169 CFO tại các công ty niêm yết trên thị trường Mỹ và tiết lộ rằng ít nhất 20% công ty có phù phép lợi nhuận trong báo cáo tài chính hàng quý, mức tiêu biểu họ thường bóp méo là khoảng 10% so với EPS của báo cáo. Lí do quan trọng nhất khiến các công ty “bùa chú” lợi nhuận là vì muốn thao túng giá cổ phiếu, được 93. Lí do tiếp theo đó là do các áp lực từ bên ngoài khiến cho công ty buộc phải bóp méo lợi nhuận. Áp lực từ bên ngoài có thể là từ ngân hàng đòi hỏi phải duy trì một mức lợi nhuận nào đó mới cho vay vốn kinh doanh, từ nhà cung cấp, hoặc vì lí do IPO phải làm báo cáo đẹp lên đôi chút.

Áp lực từ bên trong công ty, cũng như những khoản tiền thưởng béo bở cho giám đốc nếu công ty có lợi nhuận tốt cũng là một động lực của việc thao túng lợi nhuận. Do đó, mục đích của việc thao túng lợi nhuận có thể là: Thứ nhất, thao túng lợi nhuận để hướng tới mục tiêu của các cấp quản lý. Nhà quản lý thường có sự điều chỉnh lợi nhuận khi lợi nhuận thực khác với mục tiêu của nhà quản lý đặt ra. Lợi nhuận thực có thể quá cao hoặc quá thấp, còn mục tiêu của nhà quản lý thì được xác định trên cơ sở kỳ vọng của các cổ động hoặc yêu cầu đòi hỏi của các hợp đồng.

Họ can thiệp vào BCTC để “làm đẹp” hồ sơ phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vay vốn, chứng minh năng lực tài chính với khách hàng… và theo quy định của luật chứng khoán hiện hành, nếu doanh nghiệp bị lỗ trong 3 năm liên lục thì sẽ bị buộc hủy niêm yết nên cũng rất có khả năng doanh nghiệp tìm cách “làm đẹp” BCTC để tránh lỗ và không bị buộc rời khỏi sàn niêm yết. Thứ hai, thao túng lợi nhuận để làm lợi nhuận trở nên đẹp hơn, phù hợp hơn hoặc giảm bớt sự biến động của lợi nhuận. Nhà quản lý sẽ nhận được phản ứng ít tiêu cực hơn từ những người sử dụng thông tin – là các nhà đầu tư, các nhà phân tích tài 8 chính khi thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận để làm cho lợi nhuận được báo cáo “tốt hơn” so với lợi nhuận trước điều chỉnh. Thứ ba, thao túng lợi nhuận để “làm giá” cổ phiếu.

Lợi nhuận ảnh hưởng trực tiếp đến giá cổ phiếu nên nhà quản lý điều chỉnh lợi nhuận để tác động đến giá cổ phiếu. Trên thị trường vốn, việc sử dụng rộng rãi thông tin kế toán bởi các nhà đầu tư và các nhà phân tích tài chính có thể giúp định giá cổ phiếu và điều này cũng gián tiếp thúc đẩy nhà quản lý điều chỉnh lợi nhuận để tác động đến giá cổ phiếu. Các công ty niêm yết thường được giám sát về việc tuân thủ các quy định, bao gồm cả những quy định liên quan đến số liệu kế toán và các thông tin công bố. Điều này tạo ra áp lực cho các nhà quản lý trong việc thao túng lợi nhuận để thể hiện doanh nghiệp tuân thủ các quy định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Ứng dụng mô hình F-Score đo lường thao túng lợi nhuận trên thị trường chứng khoán Việt Nam" nghiên cứu việc sử dụng mô hình F-Score (hoặc một biến thể) để phát hiện các dấu hiệu thao túng lợi nhuận trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Nghiên cứu này giúp nhà đầu tư, nhà quản lý quỹ và các cơ quan quản lý có thêm công cụ để đánh giá chất lượng báo cáo tài chính, từ đó đưa ra quyết định đầu tư và quản lý rủi ro hiệu quả hơn. Nó giúp xác định những công ty có khả năng "làm đẹp" số liệu, qua đó cảnh báo rủi ro tiềm ẩn.

Để hiểu sâu hơn về rủi ro trong lĩnh vực tài chính, bạn có thể tham khảo thêm Luận án nghiên cứu rủi ro tài chính trong tái bảo hiểm, một tài liệu cung cấp cái nhìn tổng quan về cách thức quản lý và đo lường rủi ro. Hoặc, nếu bạn quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng đến sự minh bạch của báo cáo tài chính và dòng tiền, hãy khám phá Luận văn thạc sĩ bất cân xứng dòng tiền nguyên nhân và những ảnh hưởng đến nghiên cứu về bất cân xứng thu nhập. Ngoài ra, việc nắm bắt cách quản lý rủi ro tín dụng cũng rất quan trọng, và Luận văn thạc sĩ quản lý rủi ro tín dụng tại hội sở ngân hàng tmcp việt nam thịnh vượng sẽ cung cấp thông tin chi tiết về vấn đề này.