Chương 1 trình bày báo cáo tổng quan nghiên cứu về hệ thống quản lý điều khiển tự động tòa nhà thông minh BMS. Chương 2 trình bày nghiên cứu về các vi điều khiển 16 bit và cơ sở truyền thông trong hệ thống quản lý tòa nhà. Chương 3 trình bày về việc triển khai phần cứng và phát triển các chương trình phần mềm cho 2 phân hệ điều khiển tự động tòa nhà: phân hệ điều khiển điều hòa không khí HVAC và phân hệ điều khiển điều hành chiếu sáng. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ TÒA NHÀ BMS 1.1 Hệ thống quản lý tòa nhà BMS Trong vài năm gần đây, các tòa nhà cao tầng đang được xây dựng với quy mô lớn và tốc độ hết sức nhanh chóng ở Viêt nam.
Qua các phân tích về thực trạng các tòa nhà cao tầng hiện nay ở Việt nam cho thấy sự cấp thiết phải xây dựng được các Hệ thống tự động hóa điều khiển giám sát các tòa nhà này. Để đánh giá chất lượng của các tòa nhà cao tầng, ngoài tiêu chí về diện tích sử dụng, các hệ thống kỹ thuật tối thiểu như hệ thống điện và chiếu sáng, hệ thống cấp nước, hệ thống thông gió; phải quan tâm đến các tiêu chí về các mặt kiến trúc, kết cấu xây dựng, tiện nghi, độ an toàn, độ tin cậy, tính kinh tế và tính hiện đại của tòa nhà đó. Có tác giả đã đưa ra các tiêu chí như sau để đánh giá chất lượng các tòa nhà như sau [1]. Hệ thống điều khiển vào ra (Access) 2.
Hệ thống báo động xâm nhập (Security) 3. Hệ thống thông tin nội bộ và mạng thông tin (Communication) 4. Hệ thống báo và chống cháy (Fire) 5. Hệ thống điều khiển thông gió và điều hòa không khí (HVAC) 6.
Hệ thống điều khiển ánh sáng (Lighting) 7. Hệ thống quản lý năng lượng (Energy) 8. Hệ thống tự động hóa tòa nhà (Automation),. Tùy theo mục đích sử dụng của tòa nhà mà các tiêu chí trên đây được yêu cầu bắt buộc hay là tiêu chí phụ.
Theo các tiêu chí trên thì tất cả các nhà cao tầng bắt buộc phải thỏa mãn tiêu chí 4, 5 và 6. Các hệ thống kể trên có thể được chia làm ba nhóm chính: • Hệ thống giám sát và báo động, • Hệ thống quản lý năng lượng, • Hệ thống thông tin. Ba nhóm này đặc trưng cho hệ thống tự động hóa giám sát, điều khiển tòa nhà mà có thể nói gọn theo thuật ngữ viết tắt từ tiếng Anh là BMS (Building Management System) có nghĩa là “Hệ thống quản lý tòa nhà”. Tùy thuộc vào mục đích sử dụng mà ba nhóm hệ thống trên được trang bị cho các tòa nhà hay không.
Trên cơ sở các hệ thống này mà người ta đánh giá chất lượng của các tòa nhà đạt tiêu chuẩn hay không đạt tiêu chuẩn của hệ thống BMS [6]. Ba nhóm đặc trưng của hệ thống BMS Tóm lại, hệ thống tự động hóa giám sát, điều khiển tòa nhà hay còn gọi là hệ thống quản lý tòa nhà BMS là một hệ thống điều khiển và quản lý cho các phân hệ kỹ thuật trong toà nhà như hệ thống điện, hệ thống cung cấp nước sinh hoạt, hệ thống điều hoà thông gió, hệ thống cảnh báo môi trường, hệ thống an ninh, hệ thống báo cháy, v.v… giúp cho việc vận hành một toà nhà trở nên hiệu quả, kịp thời. Với các yêu cầu như vậy hệ thống BMS có các tính năng chính, cụ thể như: • Quản lý tín hiệu cảnh báo. • Giám sát, điều khiển toàn bộ toà nhà.
• Đặt lịch hoạt động cho thiết bị. • Quản lý dữ liệu gồm soạn thảo chương trình, quản lý cơ sở dữ liệu, chương trình soạn thảo đồ hoạ, lưu trữ và sao lưu dữ liệu. • Báo cáo, tổng hợp thông tin.2 Kiến trúc hệ thống BMS Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của các cấu kiện trong toàn hệ thống và các phân hệ, có một số cách nhìn nhận xây dựng kiến trúc một hệ thống BMS cho các tòa nhà cao tầng. Thường kiến trúc này được thiết kế mô hình hóa theo một cách sắp xếp kiểu thứ bậc (hierarchical) với các cấp độ theo kiểu dưới lên (bottom-up) hay trên xuống (top-down).
Số cấp độ được sử dụng thực sự cho các hệ thống thành phần tùy thuộc vào từng nhu cầu cụ thể. Trên cơ sở đó, mô hình cho các phần cứng (bao gồm các bộ cảm nhận, bộ điều khiển, các cơ cấu chấp hành, hiển thị, …kết nối qua các kênh thông tin vật lý) và phần mềm (bao gồm các chương trình giám sát điều khiển z 10 thông qua các giao thức thông tin) cũng được xác định. Kiến trúc hệ thống có thể phân thành 3 cấp bậc theo mô hình dưới lên như sau [6]: 1. Cấp xử lý hiện trường (field-level) 2.
Cấp xử lý điều khiển hệ thống (system-level) 3. Cấp quản lý (management-level) Cấp Quản lý PC Thiết bị ngoại vi Kênh thông tin ra ngoài Cấp Hệ thống MC MC MC MC MC MC Cấp hiện trường Cảm biến MC MC Nối với cảm biến hoặc chấp Chấp hành MC MC hành MC MC MC: là các vi điều khiển Hình 2. Kiến trúc phân cấp theo mô hình thứ bậc của hệ thống BMS z 11 1.1 Cấp xử lý hiện trường Các bộ điều khiển ở cấp này sử dụng các vi xử lý (hay vi điều khiển MC, microcontroller) cung cấp khả năng điều khiển trực tiếp tới các thiết bị nằm trong phạm vi hiện trường (trong các phòng làm việc, sinh hoạt, hành lang, thang máy, tầng hầm, …) như các máy điều hòa trong từng phòng, các công-tắc điện tử đóng/ngắt hay điều khiển cường độ sáng của thiết bị chiếu sáng trong phòng, các rơ-le đóng/ngắt các mô-tơ đóng/mở cửa ra vào, các cảm biến và thiết bị báo động phát hiện khói hỏa hoạn, phát hiện đập vỡ cửa kính trong phòng, v.v… Bộ điều khiển cấp này cũng có thể sử dụng phần mềm quản lý năng lượng. Tại cấp xử lý hiện trường, cảm biến và bộ chấp hành thường liên lạc trực tiếp với thiết bị được điều khiển qua bộ điều khiển (điều khiển trực tiếp - bằng tay) hặc cung cấp thông tin cảm nhận tới các cấp cao hơn qua các kênh thông tin.
Một bus liên lạc làm phương tiện kết nối các bộ điều khiển, do vậy các điểm giữa các bộ điều khiển có thể chia sẻ thông tin cho nhau (nếu cần thiết) và chia sẻ với các bộ xử lý tại các cấp cao hơn. Các bộ điều khiển cấp hiện trường điển hình gồm có một cổng hoặc kênh giao tiếp để hỗ trợ sử dụng thiết bị đầu cuối di động trong quá trình thiết lập chế độ hoạt động ban đầu và cả những lần điều chỉnh sau đó.2 Cấp xử lý, điều khiển hệ thống Các bộ điều khiển nằm ở cấp này thường có năng lực hoạt động lớn hơn các bộ điều khiển cấp hiện trường về số lượng các điểm vào/ra, các vòng điều chỉnh và cả các chương trình điều khiển. Bộ điều khiển cấp hệ thống thường được dùng cho các ứng dụng lớn hơn như hệ thống điều hòa trung tâm, các thiết bị điện-cơ công suất lớn cho tòa nhà như các hệ cung cấp khí cho cầu thang máy, tầng hầm để xe, hệ thống làm mát từng vùng hay toàn tòa nhà, hệ thống camera và cửa từ giám sát, điều khiển thâm nhập vào ra, hệ thống cảnh báo an ninh tòa nhà. Ngoài ra, nó còn thực thi điều khiển ánh sáng trong toàn tòa nhà.
Bộ điều khiển tại cấp này có thể hoặc giao tiếp trực tiếp với các thiết bị được điều khiển thông qua cảm biến và bộ chấp hành, hoặc giao tiếp gián tiếp thông qua các bus liên lạc với bộ điều khiển cấp hiện trường. Khi bộ điều khiển cấp hệ thống được kết nối với bộ xử lý cấp quản lý bên trên, những thay đổi chương trình điều khiển thường được thực thi ở bộ xử lý cấp quản lý rồi sau đó được tải xuống bộ điều khiển. Bộ điều khiển cấp hệ thống cũng cung cấp khả năng dự phòng trong trường hợp liên lạc bị đứt bằng chế độ hoạt động độc lập. Một số kiểu bộ điều khiển cấp hệ thống cũng cung cấp chế độ bảo vệ an toàn cho toàn bộ tài sản trong tòa nhà thông qua tín hiệu cảnh báo hỏa hoạn, cảnh báo an ninh, bảo mật truy cập.3 Cấp quản lý (điều khiển trung tâm) Các thiết bị và hệ thống cấp này chủ yếu giao tiếp với người quản trị hệ thống BMS.
Thường đây là một máy vi tính PC đủ mạnh, được trang bị màn hình hiển thị, bàn phím nhập dữ liệu với các bảng mạch có chức năng ‘plug-in’ cho thiết bị vận hành bổ sung, máy in, các đầu nối mở rộng bộ nhớ và bus liên lạc. Bộ xử lý cấp này thường có phần mềm ứng dụng cho các hoạt động sau: z 12 • Bảo đảm an ninh hệ thống: giới hạn quyền truy cập và vận hành cho những người có thẩm quyền. • Xâm nhập hệ thống: Cho phép những người có thẩm quyền chọn và lấy dữ liệu thông qua PC và một số thiết bị khác. • Định dạng dữ liệu: lắp ghép các dữ liệu rời rạc thành các nhóm định dạng có quy tắc dùng cho việc in ấn và hiển thị.
• Tùy biến các chương trình: người sử dụng có thể tự thiết kế, lập trình các chương trình riêng tùy theo yêu cầu sử dụng của riêng mình. • Hiển thị đồ họa và âm thanh: Kết hợp với dữ liệu động về hệ thống xây dựng các màn hình đồ họa theo yêu cầu sử dụng các công cụ vẽ và bảng biểu hoặc phát các tín hiệu âm thanh trong một số lưu ý người vận hành hoặc một số trường hợp báo động khẩn cấp. • Lập báo cáo: Lập báo cáo tư động, định kỳ hoặc theo yêu cầu về các cảnh báo và các sự kiện, hoạt động vận hành. Đồng thời cung cấp các khả năng tóm tắt báo cáo.
• Quản lý bảo trì, bảo dưỡng: Tự động lên lịch bảo trì thiết bị dựa trên dữ liệu về lịch sử thiết bị và thời gian hoạt động. • Tích hợp hệ thống: Cung cấp giao diện và điều khiển chung cho các hệ thống thành phần và cung cấp các khả năng tổng hợp thông tin từ các hệ thống thành phần này (như các hệ thống HVAC, cứu hỏa, an ninh, điều khiển truy cập), để từ đó có khả năng đưa các quyết định tác động có tính toàn cục cho toàn hệ thông. Tại cấp này, người quản trị cũng có thể lấy dữ liệu và ra lệnh từ/tới các điểm từ bất kỳ đâu trong hệ thống.