MỞ ĐẦU normal distribution trajectory - LNDT) được giới thiệu bởi [15]. Tuy nhiên, các phương pháp của [14] và [15] hay tương tự chỉ phù hợp với việc tránh một tàu đơn lẻ và không có tính linh hoạt để tránh nhiều tàu một lúc. Một hướng tiếp cận khác được đề xuất trong [16], các tàu được xấp xỉ bằng các vùng dự đoán va chạm (Predicted Area of Danger - PAD) và các PAD này sau đó được sử dụng để hoạch định tránh va chạm. Hạn chế lớn nhất của [16] tốn nhiều thời gian tính toán, nên khó có thể bắt thể bắt kịp sự biến động của ngoại cảnh.
Khác với phương pháp hoạch định chủ động, các giải thuật phản ứng hành vi lại chú trọng phản ứng nhanh với các sự biến đổi của môi trường hơn tối ưu hiệu suất, do đó không bước hoạch định (hình 1. Phương pháp đơn giản và Hình 1.10: Lưu đồ minh họa phương pháp phản ứng hành vi (reactive). phổ biến nhất cho loại giải thuật này có lẽ là Trường thế nhân tạo (Artificial Potential Field - APF) [17]. Đúng như tên gọi của giải thuật, APF sẽ thiết lập các trường thế xung quanh các vật cản và điểm đích, và các lực thế sinh ra sẽ có đặc điểm luôn hướng ra vật cản và hướng đến điểm đích.
Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất của phương pháp là các điểm cực tiểu địa phương. [18] đã đề xuất hàm APF mới cho robot di chuyển trong môi trường động bằng cách xem xét thêm vận tốc của điểm đích và gia tốc, vận tốc của robot khi thiết kế các hàm thế. [19] đã chia miền thế thành bốn miền khác theo thứ tự tăng dần mức độ nguy hiểm gồm vùng an toàn, vùng điều tiết, vùng khẩn cấp, và vùng cấm. [20] giới thiệu phương pháp hoạch định đường đi theo theo APF (PGHAPF) để giải quyết vấn Luận Văn Thạc Sĩ HV: Phan Minh Tâm 9 Luận Văn Thạc Sĩ 10 CHƯƠNG 1.
MỞ ĐẦU đề cực tiểu cục bộ của APF truyền thống. PGHAPF xem xét giá trị thế năng tại 4 điểm gồm: vị trí hiện tại, và các vị trí sau khi thực hiện các hành động đi thẳng, rẽ phải, rẽ trái. Nếu thế năng tại bất kì vị trí nào lớn hơn ngưỡng cho trước, thì hành động tương ứng với giá trị thế năng nhỏ nhất sẽ được chọn để điều động USV. Để giải quyết cực tiểu địa phương khi mà robot, vật cản, điểm đích thẳng hàng, [21] đề xuất thêm vào mô hình APF một thành phần lực mới mà tiếp tuyến với biên dạng của vật cản.
Trong [22], một thành phần lực cũng được giới thiệu nhưng vuông thành phần lực đẩy. Các hệ thống lai là sự kết hợp của các phương pháp hoạch định chủ động và giải thuật phản ứng hành vi để tận dụng lợi thế cũng như bù đắp nhược điểm của hai phương pháp này (1. Trong hệ thống này, lớp hoạch định chủ động Hình 1.11: Lưu đồ minh họa phương pháp lai (hybrid). là lớp cao hơn có nhiệm vụ hoạch định đường đi tối ưu trong môi trường tĩnh.
Lớp thấp hơn là lớp phản ứng hành vi có nhiệm vụ nhận đường đi tham chiếu từ lớp hoạch định chủ động và đưa ra chỉ dẫn để tránh các vật cản động. [23] giới thiệu NHNA (New Hybrid Navigation Algorithm), gồm lớp hoạch định chủ động và lớp phản ứng hành vi. Trong đó đường tham chiếu được tạo ra bởi thuật toán A*, DHB (Distance Histogram bug) là thuật toán phản ứng hành vi được sử dụng. [24] cũng đề xuất HNA (Hybrid Navigation algorithm with roaming trails) nhưng với APF được sử dụng trong lớp reactive.
[25] cũng đề xuất hệ thống lai tương tự với NHNA và HNA, nhưng WSM (Weight Sum Model) là Luận Văn Thạc Sĩ HV: Phan Minh Tâm 10 Luận Văn Thạc Sĩ 11 CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU thuật toán phản ứng hành vi được sử dụng để giải bài toán tối ưu đa mục tiêu. Bên cạnh những nghiên cứu này, còn rất nghiên cứu về hệ thống lai như [26], [27].4 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu Như đã đề cập trong mục 1.3, tất cả các tàu thuyền tham gia giao thông trên biển đều phải COLREGs, làm cho tàu COLREGs trở nên phổ biến và có hành vi dễ dự đoán. Việc áp dụng phương pháp hoạch định hoạch định chủ động để xử lý tránh va chạm với các loại tàu này có thể mang lại nhiều lợi ích khác nhau như tiết kiệm thời gian, năng lượng, có thể kiểm soát quỹ đạo.
Tuy nhiên, khi số lượng tàu COLREGs tăng lên hay có sự tham gia của tàu phi COLREGs, phương pháp hoạch định chủ động sẽ gặp nhiều khó khăn hoặc thậm chí không thể giải quyết được. Trong những tình huống này thì các giải thuật phản ứng hành vi lại là phương án tốt vì lúc này việc giữ an toàn nên được ưu tiên hơn việc tối ưu chất lượng. Từ nhưng quan sát trên, luận văn này đề xuất hệ thống tránh va chạm hai chế độ (DMCAS) được xây dựng dựa trên kiến trúc của hệ thống lai, gồm: chế độ hoạch định chủ động để xử lý các tàu COLREGs, và chế độ phản ứng hành vi để xử lý các trường hợp phức tạp hơn. Với thiết kế này, DMCAS có thể khai thác tối đa luật COLREGs để đạt được hiệu suất cao khi tránh va chạm tàu COLREGs, trong khi vẫn luôn giữ an toàn trong các tình huống phức tạp hơn.
Để xây dựng được DMCAS thỏa mãn các mục tiêu này, các nội dung nghiên cứu chi tiết của đề tài này như sau: • Đề xuất phương pháp xây dựng “vùng ê-lip xâm phạm” (threat ellipse - TE) cho phép biến đổi bài toán tránh vật cản động thành tránh vật cản tĩnh với các đối tượng là tàu tuân thủ luật COLREGs. • Đề xuất phương pháp xây dựng một quỹ đạo tránh vật cản dựa trên TE có tên là quỹ đạo độ cong liên tục theo ê-lip (Ellipse-bases Curvature- Continuous Trajectory - ECCT). Luận Văn Thạc Sĩ HV: Phan Minh Tâm 11 Luận Văn Thạc Sĩ 12 CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU • Phát triển giải thuật tránh vật cản cho trường hợp đa vật cản bằng cách sử dụng tính chất tĩnh của TE.
• Phát triển giải thuật tránh vật cản cho trường hợp vật cản không tuân thủ COLREGs bằng cách tích hợp threat ellipse vào trường thế của APF. • Thiết kế bộ điều khiển và giải thuật điều hướng để điều khiển USV bám theo quỹ đạo tránh va chạm. Luận Văn Thạc Sĩ HV: Phan Minh Tâm 12 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Mô hình toán USV 2.1 Mô hình động học của USV Các hệ quy chiếu Hệ quy chiếu với trái đất là trung tâm: Có 2 loại ECI (The Earth-centered inertial): Là một hệ quy chiếu quán tính cho điều hướng trên mặt đất, nó là hệ quy chiếu mà trong đó các luật của Newton được áp dụng để tính toán, ký hiệu là {i}. Gốc của {i} thì nằm tại tâm oi của trái đất cùng với các trục được biễu diễn trong hình 2.
ECEF (The Earth-centered Earth-fixed): Là một bản chỉnh sửa của ECI. Đây là hệ quy chiếu xem trái đất là cố định (không xoay). Gốc của {e} vẫn nằm tại tâm của trái đất, nhưng trục của nó xoay lệch đi so với ECI. Trong đó tỷ góc quay là ωe = 7.
Đối với các tàu di chuyển chậm thì ta có thể bỏ qua chuyển động quay của trái đất do đó có thể xem {e} như là {i}. Hệ tọa độ {e} thường được sử dụng trong định vị, dẫn đường và điều khiển toàn cầu. Hệ quy chiếu địa lý: Cũng có 2 loại NED (North-East-Down): Là hệ tọa độ với tâm là on được định nghĩa dựa vào 13 Luận Văn Thạc Sĩ 14 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT dạng ellip của trái đất.
Nó là hệ tọa độ chúng ta đề cập trong cuộc sống hàng ngày. Thường thì NED được định nghĩa là một mặt phẳng tiếp tuyến với bề mặt của trái đất, ký hiệu {n}. Trong hệ tọa độ này trục x của nó sẽ hướng về phía Bắc còn trục y sẽ hướng về phía Đông và trục z sẽ hướng xuống vuông góc với mặt phẳng tiếp tuyến với bề mặt trái đất. Vị trí của {n} so với {e} sẽ được xác định qua hai góc l và µ biễu thị tương ứng cho kinh độ và vĩ độ.
Đối với các tàu hoạt động trong một vùng địa lý cố định thì kinh độ và vĩ độ có thể được xem là xấp xỉ không đổi. Khi đó một mặt phẳng tiếp tuyến với trái đất cố định (không xoay) được sử dụng để định vị và được ký hiệu là {n} sẽ có thể giả sử là quán tính và các luật Newton có thể áp dụng được. BODY: Ký hiệu là {b} với gốc ob là một hệ tọa độ di chuyển gắn với cố định Hình 2.1: Hệ quy chiếu ECEF {e} = (xe , ye , ze ) xoay với một tỷ góc ωe so với hệ quy chiếu ECI {i} = (xi , yi , zi ). Vị trí và hướng của tàu thì được mô tả tương ứng trong hệ quy chiếu quán tính (xấp sẽ {e} hoặc {n}) trong khi đó vận tốc góc và vận tốc tuyến tính của tàu nên được thể hiện trong hệ tọa độ BODY này.
Gốc ob thường được chọn trùng với điểm giữa thuyền trong đường nổi trên mặt nước. Với tàu thì các trục Luận Văn Thạc Sĩ HV: Phan Minh Tâm 14 Luận Văn Thạc Sĩ 15 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT xb , yb và zb được chọn trùng với trục chính của quán tính, và thường được định nghĩa như sau: + xb - trục theo chiều dọc (hướng từ phía sau đến trước). + yb - trục hoành (hướng từ bên trái sang bên phải).
+ zb - trục thường (hường từ trên xuống dưới).2 Mô hình động lực học Chuyển động của một vật thể trong không gian có thể mô tả một cách tổng quát bằng 6 bậc tự do (6 DOF). Các giá trị x, y và z sẽ mô tả vị trí trong không gian 3 chiều và các góc roll, pitch, và yaw ϕ, θ, ψ sẽ mô tả hướng của con tàu. Giả sử rằng con tàu đang nằm ngang ổn định không bị nghiêng (đặc biệt là cho các loại tàu hai thân có tính ổn định cao khi di chuyển) thì ta có thể xem góc roll, pitch xấp xỉ bằng không nên ta có thể loại bỏ. Tương tự với độ nổi của con tàu ta xem không đổi nên ta có thể bỏ qua giá trị z.
Như vậy mô hình chuyển động của tàu trên mặt nước có thể rút gọn thành 3 DOF. Ta có mô hình động lực học 3 DOF được rút gọn từ mô hình tổng quát 6 DOF của (Fossen, 2002) [28] như sau: η̇ = R (ψ) υ (2.