Chương 1: Tổng quan về đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Nội dung và kết quả Chương 4: Kết luận và kiến nghị. 3 Luan van Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Giới thiệu khái quát [15] 2. Chức năng hệ thống thiết bị dẫn đường hàng không Hệ thống thiết bị dẫn đường hàng không là hệ thống thiết bị nhằm cung cấp thông tin cho tàu bay thông qua các máy thu được trang bị trên tàu bay, giúp người lái xác định được các thông tin sau: - Tàu bay đang ở đâu? - Tàu bay đang bay về hướng nào? - Tàu bay đang cách đài dẫn đường/ sân bay bao nhiêu dặm? - Tàu bay bay như thế nào? 2.
Lợi ích của việc sử dụng hệ thống GNSS Dẫn đường sử dụng GNSS có những lợi ích như sau: - Kết hợp các chức năng dẫn đường vào thành một hệ thống đơn dựa trên vệ tinh với một bộ đơn thiết bị điện tử hàng không và tận dụng hệ thống dẫn đường cũ cả trên không và mặt đất với sự tiết kiệm chi phí rất cơ bản. - Cải tiến mức độ an toàn và giảm bớt mức phân cách tối thiểu với kết quả là làm tăng khả năng tiếp nhận và năng lực của hệ thống. - Tính linh hoạt tăng lên giúp thực hiện việc dẫn đường chính xác bằng việc dùng các quỹ đạo hiệu quả, tối ưu và được người sử dụng lựa chọn. - Giảm bớt một cách đáng kể chi phí khai thác máy bay thông qua nhiều đường bay thẳng hơn.
- Mực bay tự động hóa cao hơn trong dẫn đường cho máy bay. - Báo cáo vị trí chính xác hơn cho phép có được hệ thống ATM chất lượng cao trong phạm vi toàn cầu. - Tăng khả năng tiếp nhận hạ cánh cho sân bay hiện không cung cấp phụ trợ tiếp cận chính xác. 4 Luan van Và chính vì vậy dẫn đường dựa vào thiết bị không gian đã và đang được sử dụng và chính là xu hướng chung của tương lai.
Trên quỹ đạo có những hệ thống vệ tinh nhân tạo với nhiệm vụ là xác định vị trí của những đối tượng trên mặt đất. Bất cứ ai, vật gì trên toàn cầu, khi mang theo một máy thu đặc biệt thì nhờ hệ thống vệ tinh này có thể biết được khá chính xác hiện tại mình đang ở vị trí nào trên trái đất. Người ta gọi đây là hệ thống vệ tinh dẫn đường toàn cầu GNSS (Global navigation satellite system). Tuy nhiên trong quá trình truyền tín hiệu, không thể tránh khỏi những sai số.
Bài toán giải quyết những sai số này thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu và đưa ra các giải pháp. Tuy nhiên, với bất cứ giải pháp nào thì tín hiệu nhận được cũng không thể nào là tuyệt đối. Việc lựa chọn bộ lọc nào tối ưu và phù hợp với các loại nhiễu giúp cho tín hiệu GNSS thu được sau khi lọc gần giống nhất với tín hiệu vệ tinh phát ra ban đầu chính là ý tưởng cho đề tài này. Với các loại bộ lọc khác nhau sẽ có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau.
Nhưng với những ưu điểm vượt trội, bộ lọc Kalman đang trở thành xu thế lọc tín hiệu GNSS hiện nay và tương lai. Giới thiệu chung các hệ thống dẫn đường vệ tinh Ngành hàng không luôn đưa ra những yêu cầu nghiêm ngặt về độ chính xác. Độ an toàn cao luôn luôn là tiêu chí quan trọng nhất của ngành, nên các thiết bị kỹ thuật cao trở thành những thứ không thể thiếu. Trên thế giới có bốn hệ thống vệ tinh dẫn đường chính là: + GPS (Global Positioning System) + GLONASS (Global Orbiting Navigation Satellite System) + GALILEO (Mang tên nhà thiên văn học GALILEO) + COMPASS (Hệ thống vệ tinh Bắc Đẩu 2) Ngoài ra, còn có một số hệ thống dẫn đường khu vực như: + IRNSS – Hệ thống định vị tại khu vực của Ấn Độ, hoạt động bắt đầu từ năm 2013, có độ phủ ở Ấn Độ và bắc Ấn Độ Dương.
+ QZSS – Hệ thống định vị khu vực của Nhật Bản, phủ khắp châu Á và châu Đại Dương. 5 Luan van + DORRIS – do Trung tâm nghiên cứu không gian và viện địa lý Pháp (CNES) phát triển,… Và một số hệ thống định vị vệ tinh mở rộng: + EGNOS (European Geostationary Navigation Overlay Service) + WAAS (Wide Area Augmentation System) + MSAS (Multi-functional Satellite Augmentation System) + GAGAN (GPS and GEO Augmented Navigation system) + NIGCOMSAT (Nigerian communication satellite),… Các hệ thống này được gọi tên chung là Hệ thống vệ tinh dẫn đường toàn cầu (GNSS, Global Navigation Satellite System).1: Thông tin khái quát về các hệ thống vệ tinh dẫn đường chính [5] Đặc tính GPS GLONASS GALILEO COMPASS Tháng 2 – Tháng 10 – Tháng 12 – Tháng 4 – Lần đầu ra mắt 1978 1982 2005 2007 Hoạt động với đầy Tháng 2 – Tháng 10 – Dự kiến đến 2012, 2013 đủ các chức năng 1995 2011 năm 2020 28 (tính đến Số vệ tinh 30 30 35 năm 2000) Bán kính quỹ đạo 26.500 km Độ nghiêng quỹ 550 64,80 560 550 đạo Tách tín hiệu CDMA FDMA CDMA CDMA L1 =1575.520 6 Luan van Hình 2.1: Hệ thống vệ tinh dẫn đường 2. Hệ thống định vị toàn cầu GPS – Global Positioning System [17] Hệ thống GPS là sản phẩm của Bộ Quốc phòng Mỹ xây dựng vào năm 1978. Hệ thống này là một mạng gồm 28 vệ tinh Navstar (tính đến năm 2000) quay xung quanh trái đất tại độ cao 26.
Hệ thống đòi hỏi tối thiểu 4 vệ tinh hoạt động để đưa ra được thông tin chính xác về vị trí (bao gồm cả độ cao) và tốc độ của một vật. Vì hoạt động trên quỹ đạo, các vệ tinh đảm bảo cung cấp vị trí tại bất kỳ điểm nào trên trái đất. Cấu trúc hệ thống GPS Hệ thống GPS gồm 3 thành phần: - Phần sử dụng: gồm người sử dụng và thiết bị thu GPS. - Phần kiểm soát: bao gồm các trạm trên mặt đất, chia thành trạm trung tâm và trạm con.
Các trạm con, vận hành tự động, nhận thông tin từ vệ tinh, gửi tới cho trạm chủ. Sau đó các trạm con gửi thông tin đã được hiệu chỉnh trở lại, để các vệ tinh biết được vị trí của chúng trên quỹ đạo và thời gian 7 Luan van truyền tín hiệu. Nhờ vậy, các vệ tinh mới có thể đảm bảo cung cấp thông tin chính xác tuyệt đối vào bất kỳ thời điểm nào. - Phần không gian: gồm các vệ tinh hoạt động bằng năng lượng mặt trời và bay trên quỹ đạo.
Quãng thời gian tồn tại của chúng vào khoảng 10 năm và chi phí cho mỗi lần thay thế lên đến hàng tỷ USD. Một vệ tinh có thể truyền tín hiệu radio ở nhiều mức tần số khác nhau. Nguyên lý hoạt động của GPS Vị trí của 1 điểm trên mặt đất, sẽ là tham chiếu so với vị trí của các vệ tinh và trung tâm tín hiệu trung gian mặt đất. Có nghĩa là vị trí của bạn sẽ được tính toán dựa trên khoảng cách từ nơi bạn đang đứng đến các vệ tinh và đến các trung tâm mặt đất.
Khoảng cách này được đo bằng công thức rất đơn giản, đó là: Quãng đường = Vận Tốc x Thời Gian Ở đây, vận tốc là vận tốc truyền tín hiệu (sóng), thời gian đo bằng đồng hồ nguyên tử có độ chính xác cực cao. Vì thế, khi nhận đc tín hiệu từ vệ tinh, thiết bị sẽ tự tính toán ra khoảng cách giữa thiết bị và vệ tinh thông qua phương pháp trên. Theo lý thuyết, chỉ cần có 3 vệ tinh là có thể tính toán đc vị trí (tính ra tọa độ x, y, z trong không gian), tuy nhiên do có sai số nhất định nên hệ thống cần thêm 1 tham chiếu nữa, tức là thêm 1 vệ tinh nữa là 4 vệ tinh để có thể tính toán được chính xác. GPS tuy tính toán vị trí rất chính xác nhưng vẫn luôn luôn có sai số.
Sai số này có thể là vài mét hoặc vài trăm mét. Sai số hiển thị trên màn hình thiết bị chỉ là sai số có thể có dựa trên phân tích tín hiệu thu nhận được còn trong thực tế thì không thể biết được chính xác. Bởi vì các vệ tinh, trái đất và cả chúng ta đều di chuyển liên tục đồng thời trong thời gian thực. Hệ thống GLONASS (Global Orbiting Navigation Satellite System) [17] GLONASS (Global Orbiting Navigation Satellite System, hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu) là hệ thống định vị vệ tinh do Lực lượng Phòng vệ Không gian của Nga điều hành.
Quỹ đạo vệ tinh GLONASS ở độ cao 25.508 km bao gồm 30 vệ tinh với góc nghiêng 64. Một trong những vấn đề kỹ thuật quan trọng cần cân nhắc liên quan 8 Luan van đến hệ thống GLONASS. Đó là không giống với GPS và Galileo, trong khi cấu trúc tín hiệu của 2 hệ thống này sử dụng công nghệ đa truy nhập phân chia theo mã CDMA, thì cấu trúc tín hiệu của GLONASS lại sử dụng công nghệ đa truy nhập phân chia theo tần số FDMA, chính vì vậy mà GLONASS lại thêm 1 lý do nữa để các nhà sản xuất thiết bị bỏ qua trong tương lai. Hệ thống GALILEO (Mang tên nhà thiên văn học GALILEO) [17] Galileo là câu trả lời của cộng đồng châu Âu đối với GPS, không giống như GPS và GLONASS, trong khi hai hệ thống này được đầu tư, quản lý và điều hành bởi các tổ chức quân sự theo yêu cầu của mỗi quốc gia thì hệ thống này lại được quản lý và điều hành bởi các tổ chức dân sự, kinh phí đầu tư để phát triển các hợp phần chính của hệ thống cũng như chi phí duy trì hệ thống được kêu gọi từ nguồn vốn thương mại.
Đây là hệ thống GNSS được thiết kế hướng tới mục tiêu phục vụ ứng dụng thương mại ngay từ bước khởi đầu. Galileo được thiết kế với 1 chùm gồm 30 vệ tinh (27 vệ tinh hoạt động và 3 vệ tinh dự phòng) và toàn bộ các hợp phần mặt đất cần thiết phục vụ cho hệ thống. Quỹ đạo bay của các vệ tinh Galileo cao hơn một chút so với GPS, nhưng các nguyên lý hoạt động hoàn toàn giống với GPS. Theo công bố thì chùm vệ tinh của Galileo được thiết kế để tại bất kỳ thời điểm nào trong ngày, tại mọi vị trí trên trái đất đều có thể quan sát được ít nhất 8 vệ tinh.
Hệ thống CNSS (Compass Navigation Satellite System – Hệ thống vệ tinh Bắc Đẩu) [17] COMPASS (thế hệ thứ 2 của hệ thống Vệ tinh Bắc Đẩu) hay Bắc Đẩu 2, là hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu của Trung Quốc gồm 35 vệ tinh, hiện tại vẫn còn đang được tạo dựng. Dự kiến, hệ thống sẽ được hoàn thành vào năm 2020.