Đặt vấn đề Bệnh viện là một phần quan trọng của hệ thống cung cấp dịch vụ y tế hiện nay. Để chăm sóc sức khỏe toàn dân được bao phủ rộng khắp, thì việc tối ưu hóa hiệu suất làm việc là cần thiết. Tuy nhiên, nhiều bệnh viện ở nhiều quốc gia hiện nay vẫn đang phải đối mặt với các khó khăn liên quan tới các quy trình quản lý như thời gian chờ đợi lâu, quy trình thực hiện thủ công rườm rà. Ở Việt Nam hiện nay hệ thống bệnh viện bao gồm cả bệnh viện tư nhân và bệnh viện công.
Trong đó, bệnh viện công đóng vai trò chính trong cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho các bệnh nhân và người dân. Nhìn chung, số lượng bệnh viện công có chuyên môn tốt và lượng bệnh nhân tới thăm khám sức khỏe ở đây có số lượng lớn và góp phần lớn vào việc gia tăng chi tiêu y tế. Số lượng bệnh viện công ở Việt Nam được chia thành ba cấp: Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Theo thống kê gần đây của tổ chức y tế thế giới WHO, ở Việt Nam hiện có 47 bệnh viện cấp Trung Ương và 419 bệnh viện cấp tỉnh và 684 bệnh viện cấp huyện.
Bên cạnh đó hệ thống bệnh viện tư nhân cũng chiếm số lượng lớn chủ yếu tại các khu vực thành thị, cả nước hiện có 182 bệnh viện tư ngoài ra còn có các phòng khám tư nhân [1]. Vấn đề an toàn trong kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện các cấp là rất quan trọng. Tất cả các bệnh viện sẽ tuân thủ theo đúng tài liệu hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện do Bộ y tế ban hành. Với quy mô số lượng bệnh viện các cấp tại Việt Nam, hướng nghiên cứu của luận văn phù hợp với mô hình bệnh viện từ cấp Tỉnh đến Trung Ương, do quy mô bệnh viện lớn, số lượng bệnh nhân và bác sĩ nhiều nên cần tối ưu hóa quy trình tiệt trùng quần áo và cấp phát đồ 1 ` cho các bác sĩ tại đây để giảm thiểu số lần hấp sấy dụng cụ và người phân phát thiết bị đảm bảo nhanh chính xác tránh nhầm lẫn với số lượng lớn.
Luận văn được áp dụng phần thiết kế hệ thống điều khiển nồi hấp tiệt trùng tại bệnh viện Mắt Hà Nội có địa chỉ tại Số 37 phố Hai Bà Trưng, phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội và bệnh viện đa khoa Long An có địa chỉ tại 211 Nguyễn Thông - Phường 3 - TP Tân An - Long An. Hai bệnh viện đều là bệnh viện cấp tỉnh trực thuộc Sở y tế các tỉnh quản lý. Bệnh viện mắt Hà Nội là bệnh viện chuyên khoa nơi chuyên khám chữa các bệnh liên quan tới mắt nên số lượng bệnh nhân tới đây thăm khám và điều trị tại đây ở mức độ trung bình, một ngày phòng tiệt khuẩn trung tâm sẽ hấp 3 mẻ. Còn với bệnh viện Đa Khoa Long An là bệnh viện tuyến đầu của tỉnh Long An nên số lượng bệnh nhân thăm khám và điều trị tại đây rất lớn.
Trung bình phòng tiệt khuẩn trung tâm (TKTT) hoạt động từ 6h sáng đến 10h đêm mới đủ dụng cụ phục vụ cho nhu cầu của bệnh viện. Với số lượng bệnh nhân và tần suất sử dụng thiết bị y tế như trên thì việc tự động hóa các công đoạn trong xử lý khâu tiệt trùng quần áo y tế và phát đồ dùng nhân viên y tế một cách tự động là cần thiết. Đơn vị TKTT là đơn vị thực hiện các công đoạn trên, các quy trình thực hiện đảm bảo theo đúng quy trình về kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện. Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) là kết quả không mong muốn trong khám chữa bệnh.
NKBV góp phần làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh, tăng sử dụng thuốc kháng sinh, kéo dài ngày nằm viện, gia tăng chi phí điều trị và tăng tỷ lệ tử vong. Nếu ở các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình thực hành vô khuẩn cơ bản trong chăm sóc, chẩn đoán, điều trị người bệnh và ở những cơ sở mà nhân viên y tế còn hạn chế về kiến thức, thái độ về kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) thì tỷ lệ NKBV sẽ cao hơn. Để giảm tỷ lệ NKBV, đòi hỏi phải có sự quan tâm, nỗ lực của các nhà quản lý y tế các cấp, các nhà khoa học chuyên ngành, các cán bộ, nhân viên y tế của các bệnh viện trong việc xây dựng chính sách và duy trì việc thực hiện tốt các quy định về KSNK. Giới thiệu về quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện 1.
Chu trình nhiễm khuẩn Môi trường của các cơ sở y tế có thể là một nguồn gây nhiễm khuẩn bệnh viện (hay còn gọi là nhiễm khuẩn bệnh viện), đặc biệt là ở những người bệnh bị 2 ` suy giảm miễn dịch. Sự phơi nhiễm của người bệnh hoặc nhân viên y tế với các mầm bệnh có nguồn gốc từ môi trường hay những mầm bệnh lây truyền qua không khí (ví dụ như lao phổi và thủy đậu) hoặc mầm bệnh lây truyền qua đường máu (ví dụ như Viêm gan B (HBV) hoặc Viêm gan C (HCV)] có thể gây ra bệnh. Để phòng ngừa những nhiễm khuẩn này, việc thiết lập một chính sách kiểm soát nhiễm khuẩn môi trường và kiểm soát về kỹ thuật thật sự sẽ đem lại hiệu quả trong việc cắt đứt chu trình lây truyền bệnh truyền nhiễm trong các cơ sở y tế.1 mô tả chu trình lây truyền nhiễm bệnh trong cơ sở y tế bao gồm các tác nhân gây bệnh, nguồn chứa, đường ra, lây truyền, đường vào và vật chủ cảm nhiễm [2]. Chu trình lây truyền bệnh trong bệnh viện Đơn vị tiệt khuẩn trung tâm có trách nhiệm cung cấp các dụng cụ, thiết bị vô khuẩn đã được kiểm soát chất lượng cho các khoa phòng theo nhu cầu sử dụng một cách hiệu quả kinh tế nhất đảm bảo tính tiện ích và tính sẵn có của các dụng cụ, thiết bị vô khuẩn.
Cụ thể: - Cung cấp các dụng cụ và trang thiết bị đã được tiệt khuẩn và kiểm soát chất lượng tiệt khuẩn cho người sử dụng. - Hạn chế việc tiệt khuẩn trùng lặp các dụng cụ, trang thiết bị đắt tiền. - Lập, duy trì và bảo quản các sổ sách ghi chép quy trình làm sạch, khử, tiệt khuẩn, để chứng minh chất lượng và hiệu quả của quá trình tiệt khuẩn. 3 ` - Theo dõi và giám sát chặt chẽ các biện pháp kiểm soát chất lượng để đề phòng nhiễm khuẩn chéo trong quá trình xử lý dụng cụ theo đúng khuyến cáo về kiểm soát nhiễm khuẩn.
- Duy trì công việc kiểm kê dụng cụ, trang thiết bị, vật tư tiêu hao cung cấp và sử dụng hàng ngày tại khoa KSNK. - Giảm đến mức tối thiểu có thể được khối lượng công việc của điều dưỡng (thông qua việc chuẩn hóa các quy trình, thao tác làm việc hoặc máy móc hóa). Quy trình xử lý dụng cụ y tế Việc cấp phát dụng cụ y khoa vô khuẩn hoặc đã được khử khuẩn để dùng vào việc chăm sóc người bệnh phụ thuộc không chỉ vào tính hiệu quả của quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn mà còn cả vào việc khử khuẩn, tháo dỡ và đóng gói xếp vào máy tiệt khuẩn, công tác giám sát, chất lượng và khối lượng chất tiệt khuẩn, và tính phù hợp của chu kỳ đối với nội dung của tải trọng, và các khía cạnh khác của việc xử lý lại dụng cụ y khoa. Các cơ sở y tế nên thực hiện việc làm sạch, khử khuẩn và tiệt khuẩn dụng cụ y tế sau sử dụng cho người bệnh tại một Đơn vị TKTT nhằm kiểm soát chất lượng dụng cụ được dễ dàng hơn.
Điều này bao gồm cả lưu trữ dụng cụ trong kho và phân phối dụng cụ cho các khoa sử dụng. Sơ đồ chu trình cấp dụng cụ vô khuẩn.2 là sơ đồ chu trình cấp dụng cụ vô khuẩn bao gồm dụng cụ y tế và quần áo bác sĩ. Bao gồm các khâu từ làm sạch, kiểm tra lắp ráp, đóng gói, tiệt khuẩn, lưu trữ, vận chuyển, sử dụng thiết bị và vận chuyển [2]. 4 ` Đơn vị TKTT phải được chia ít nhất thành ba khu vực như trên hình 1.3 - Khu vực bẩn (Khu làm sạch, khử khuẩn dụng cụ): Nơi nhận dụng cụ bẩn từ các khoa về xử lý.
- Khu vực sạch: Khu vực sấy khô dụng cụ, đóng gói dụng cụ, hấp tiệt khuẩn. - Khu vực vô khuẩn: Lưu trữ và phân phối dụng cụ vô khuẩn. Sơ đồ quy trình hoạt động tại đơn vị TKTT Khu vực sạch là nơi kiểm tra, bảo dưỡng, lắp ráp và đóng gói các dụng cụ trong bao bì chuyên dụng. Khu vực lưu giữ vô trùng nên là nơi hạn chế ra vào có kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm tương đối [2].
Quy trình làm sạch dụng cụ Cần làm sạch các dụng cụ sau sử dụng với nước và máy rửa để làm sạch các dụng cụ đã sử dụng với các chất tẩy hoặc enzym trước khi xử lý vì việc làm sạch này sẽ làm giảm ô nhiễm vi khuẩn và loại bỏ những vật chất ngoại lai (các chất tồn lưu hữu cơ và các muối vô cơ) ảnh hưởng đến quá trình tiệt khuẩn vì những chất này có thể tạo ra hàng rào ngăn cản chất tiệt khuẩn tiếp xúc với dụng cụ, từ đó làm cho quá trình tiệt khuẩn bị thất bại. Ngày nay có một vài loại máy rửa dụng cụ cơ học có thể tạo thuận lợi cho việc làm sạch và khử khuẩn cho nhiều loại dụng cụ. Các máy này thường được tự động hóa và có thể nâng cao năng suất, cải thiện tính hiệu quả của việc làm sạch, 5 ` và làm giảm sự phơi nhiễm của người lao động với máu và dịch cơ thể. Có thể làm sạch bằng tay một cách cẩn thận cho những vật thể mỏng manh và phức tạp và các vật phẩm nhậy cảm với hơi nóng hoặc hơi ẩm.
Nên tháo rời những dụng cụ có nhiều hơn một bộ phận tháo ra được. Nên thận trọng để bảo đảm rằng tất cả các bộ phận được để cùng nhau, sao cho sau đó lắp ráp lại được dễ dàng [2]. Sơ đồ quy trình xử lý dụng cụ sau sử dụng Theo như trên hình 1.4 mô tả sơ đồ quy trình xử lý dụng cụ sau sử dụng bao gồm các khâu từ vận chuyển, tiếp nhận dụng cụ đến bảo dưỡng kiểm tra đóng gói dụng cụ. Bảo dưỡng kiểm tra và đóng gói Sau khi làm vệ sinh, dụng cụ y khoa cần được kiểm tra về chức năng và được bảo dưỡng.
Đại đa số dụng cụ y khoa vẫn có thể dùng lại một lần nữa, tạo nên một tài sản lớn cho một bệnh viện.