Chương 1 TỰ DO HÓA DỊCH VỤ VIỄN THÔNG TRONG KHUÔN KHỔ WTO VÀ CÁC CAM KẾT QUỐC TẾ VỀ VIỄN THÔNG CỦA VIỆT NAM 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA HIỆP ĐỊNH GATS 1. Những vấn đề chung về tự do hóa thương mại dịch vụ 1. Một số khái niệm + Dịch vụ bao gồm bất kỳ dịch vụ nào trong tất cả các lĩnh vực, trừ các dịch vụ được cung cấp để thi hành thẩm quyền của Chính phủ.
Dịch vụ là lĩnh vực tăng trưởng nhanh nhất của nền kinh tế thế giới; chúng chiếm 60% sản lượng sản xuất trên toàn thế giới, tạo ra 30% việc làm và chiếm gần 20% thương mại. 286] + Các dịch vụ được cung cấp để thi hành thẩm quyền của Chính phủ là bất kỳ dịch vụ nào được cung cấp không trên cơ sở thương mại, và cũng không trên cơ sở cạnh tranh với một hoặc nhiều nhà cung cấp dịch vụ. + Viễn thông là việc gửi, truyền, nhận và xử lý ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng thông tin khác bằng đường cáp, sóng vô tuyến điện, phương tiện quang học và phương tiện điện tử khác. 5] Viễn thông cố định được thiết lập bởi các trạm đầu cuối và các thiết bị mạng bằng cáp thường hoặc cáp quang cố định hoặc ít di chuyển, bao gồm các mạng điện thoại và mạng dữ liệu, như: điện thoại thông thường, điện thoại IP, máy Fax, điện thoại không dây và máy tính có nối mạng.
Viễn thông di động là sự kết nối giữa các thiết bị mạng và thiết bị đầu cuối qua các kênh vô tuyến trong chế độ mạng không dây, nên có thể cho phép người dùng liên lạc với người khác trong khi di chuyển. Viễn thông di động được đặc trưng bởi tính di động của thiết bị đầu cuối và chức năng chuyển mạch giữa các vùng và roaming tự động giữa các mạng địa phương. + Dịch vụ viễn thông là dịch vụ gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin giữa hai -7- z hoặc một nhóm người sử dụng dịch vụ viễn thông, bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng. 4] Những dịch vụ viễn thông cơ bản gồm: Dịch vụ điện thoại; dịch vụ điện báo; dịch vụ Telex; dịch vụ Fax; dịch vụ thuê kênh riêng; dịch vụ truyền số liệu; dịch vụ truyền hình, truyền ảnh, âm thanh; dịch vụ truyền báo điện tử; dịch vụ điện thoại di động; dịch vụ nhắn tin.
Những dịch vụ giá trị gia tăng gồm: Dịch vụ thư điện tử; dịch vụ hộp thư thoại; dịch vụ lưu trữ, cung cấp thông tin; các dịch vụ Internet: thư tín điện tử, truyền tệp dữ liệu, truy nhập từ xa, truy nhập các cơ sở dữ liệu theo các phương thức khác nhau. + Dịch vụ viễn thông công ích bao gồm dịch vụ viễn thông phổ cập và dịch vụ viễn thông bắt buộc. Dịch vụ viễn thông phổ cập là dịch vụ viễn thông được cung cấp đến mọi người dân theo danh mục, điều kiện, chất lượng và giá cước do Nhà nước quy định. 22] Dịch vụ viễn thông bắt buộc là dịch vụ viễn thông được cung cấp theo yêu cầu của Nhà nước để bảo đảm thông tin liên lạc trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật.
22] + Dịch vụ ứng dụng viễn thông là dịch vụ sử dụng đường truyền dẫn viễn thông hoặc mạng viễn thông để cung cấp dịch vụ ứng dụng trong lĩnh vực công nghệ thông tin, phát thanh, truyền hình, thương mại, tài chính, ngân hàng, văn hóa, thông tin, y tế, giáo dục và lĩnh vực khác. 4] + Dịch vụ viễn thông VSAT là dịch vụ truyền dữ liệu, hình ảnh, âm thanh thực hiện giữa trạm trung tâm và các thiết bị đầu cuối VSAT của người sử dụng (trạm mặt đất) sử dụng thiết bị chuyển phát vệ tinh và qua trạm trung tâm hệ thống viễn thông VSAT. + Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là một tổ chức quốc tế đặt trụ sở ở Giơ-ne-va, Thụy Sĩ, có chức năng giám sát các hiệp định thương mại giữa các nước thành viên với nhau theo các quy tắc thương mại. Hoạt động của WTO nhằm mục đích loại bỏ hay giảm thiểu các rào cản thương mại để tiến tới tự do thương mại.
22] + Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) là một hiệp định của Tổ -8- z chức Thương mại Thế giới. Hiệp định được ký kết sau khi kết thúc Vòng đàm phán U-ru-guay và bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1995. 23] + Tự do hóa thương mại là quá trình Nhà nước giảm dần sự can thiệp vào các hoạt động kinh doanh quốc tế của quốc gia nhằm tạo điều kiện thông thoáng và thuận lợi cho các hoạt động đó phát triển một cách hiệu quả. + Mức độ tự do hóa là kết quả của việc áp dụng hai nguyên tắc cơ bản.
Các cam kết của từng nước thành viên chỉ rõ hai nguyên tắc này được thực thi như thế nào trên nước mình. Hai nguyên tắc đó là: Đãi ngộ quốc gia: nguyên tắc này quy định rằng, một khi công ty được phép thâm nhập thị trường theo những điều kiện quy định thì họ sẽ không bị phân biệt đối xử tại thị trường nội địa đó. 84] Tiếp cận thị trường: nguyên tắc này cho phép các công ty nước ngoài cung cấp các dịch vụ qua biên giới lãnh thổ của một nước khác mà không cần lập cơ sở ở đó, họ cũng có thể lập hiện diện thương mại và gửi các cán bộ chủ chốt đến các cơ sở tại nước ngoài của mình; và cũng có thể cung cấp dịch vụ ở nước mình cho những khách hàng không phải là công dân nước mình mà đến từ các nước khác. 84] + Biện pháp của các thành viên là các biện pháp được áp dụng bởi: (i) chính quyền và các cơ quan có thẩm quyền Trung ương, khu vực hoặc địa phương; và (ii) các cơ quan phi chính phủ trong việc thực thi quyền hạn được chính quyền trung ương, khu vực hoặc địa phương ủy quyền.
Sự cần thiết của tự do hóa thương mại dịch vụ Dịch vụ đã và đang trở thành ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nền kinh tế quốc dân của nhiều nước trên thế giới. Dịch vụ nói chung và dịch vụ viễn thông nói riêng không chỉ tạo công ăn việc làm và thu nhập tại nhiều quốc gia mà còn đóng vai trò là đầu vào (input) quan trọng để sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác. Do vậy, ngành dịch vụ hiệu quả cao là rất cần thiết cho tổng thể nền kinh tế. Mở cửa lĩnh vực thương mại dịch vụ đem lại lợi ích cho cả các nước phát triển và đang phát triển.
Bất chấp quan niệm ở phần lớn các nước đang phát triển rằng họ sẽ bị thua thiệt bởi các ngành dịch vụ nội địa có khả năng cạnh tranh yếu và tính hiệu quả thấp, thực sự thường là các nước đang phát triển sẽ đạt được nhiều lợi ích đáng kể. -9- z Đối với tất cả các nền kinh tế, lợi ích có được từ tự do hoá thương mại dịch vụ là lớn hơn rất nhiều so với lợi ích có được từ tự do hoá thương mại hàng hoá. Thứ nhất là do mức độ bảo hộ của thương mại dịch vụ cao hơn so với các lĩnh vực khác, và dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn hơn trong nền kinh tế. Thứ hai, một số dịch vụ như viễn thông, ngân hàng, vận tải có tầm quan trọng đặc biệt trong việc sản xuất hầu hết các loại hàng hóa, do vậy thị trường dịch vụ mở cửa hơn nữa có thể tác động mạnh mẽ đến tổng thể nền kinh tế.
Cuộc cách mạng tin học, đặc biệt là Internet đã giúp cho việc cung cấp một loạt các dịch vụ thông qua con đường điện tử trở nên dễ dàng. Cuộc cách mạng này đã tạo nên một thị trường toàn cầu cho các dịch vụ, từ các trung tâm hỏi đáp từ xa cho tới việc lập trình các phần mềm phức tạp đang chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. Điều này có nghĩa là về mặt dài hạn các doanh nghiệp có thể tiết kiệm chi phí do những tiến bộ trong lĩnh vực viễn thông. Mở cửa thị trường dịch vụ cũng tăng khả năng tiếp cận các công nghệ nước ngoài.
Bởi trong khi phần lớn các công nghệ mới được hình thành ở các nước phát triển, thương mại có thể giúp các nước đang phát triển hưởng lợi từ hoạt động nghiên cứu và ứng dụng (R&D) trên phạm vi quốc tế. Trong nhiều lĩnh vực dịch vụ khác nhau, các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài đã giúp chuyển giao công nghệ mới và xây dựng nâng cao năng lực. Chuyển giao công nghệ diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau: qua các hợp đồng, qua việc sự dụng trang thiết bị mới trong đó có chứa đựng công nghệ mới và qua việc trao đổi kinh nghiệm và kiến thức giữa các bên… Thực tế đã chứng minh việc mở cửa thị trường dịch vụ là chất xúc tác cho việc đa dạng hoá công nghệ và đẩy nhanh tiến bộ công nghệ. Một vòng xoắn ốc tích cực có thể được thiết lập trong đó tăng cường thương mại giúp đẩy mạnh các nguồn công nghệ lưu chuyển và công nghệ lưu chuyển lại dẫn đến tăng cường thương mại bởi vì nó sáng tạo ra những cách thức kinh doanh mới.
Tập trung vào các dịch vụ quan trọng thúc đẩy trao đổi kiến thức và kinh nghiệm giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài có thể tác động mạnh mẽ đến việc chuyển giao công nghệ và tăng trưởng kinh tế. Trong dịch vụ viễn thông số lượng các thuê bao điện thoại di động tăng nhanh hơn và chiếm tỷ trọng lớn hơn số lượng các thuê bao cố định ở nhiều nước đang phát triển là nhờ công nghệ GSM của các nhà khai thác mạng nước ngoài. Kể cả khi nhà khai thác mạng trong nước đã triển khai công nghệ GSM rồi thì sự - 10 - z có mặt của một hoặc một số nhà khai thác mạng khác của nước ngoài cũng tạo nên sự cạnh tranh về giá cả và chất lượng dịch vụ khiến giá cả thấp hơn và chất lượng dịch vụ cao hơn, giúp công nghệ đến được với nhiều người hơn. Sự ra đời của Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) Thành công của 50 năm đàm phán thương mại hàng hóa trong khuôn khổ Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT - General Agreement on Tariffs and Trade) đã đưa ra một minh chứng đầy sức thuyết phục đối với các chính phủ.
Việc liên tục giảm thuế quan đã thúc đẩy thương mại hàng hóa thế giới tăng mạnh, cao hơn cả mức tăng của thu nhập thế giới.