Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TỰ DO HÓA DI CHUYỂN LAO ĐỘNG CÓ CHUYÊN MÔN TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 1. Các công trình nghiên cứu về lao động, thị trường lao động Lao động là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của mọi quá trình sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, việc nghiên cứu về lao động, thị trường lao động, di chuyển lao động đã và đang là chủ đề quan tâm của nhiều nhà khoa học và nhà hoạch định chính sách, tiêu biểu có những công trình sau: Cuốn sách “Thị trường lao động ở châu Á: Các vấn đề và triển vọng” của Ngân hàng phát triển châu Á, xuất bản năm 2006.
Các tác giả đã tập trung nghiên cứu: những vấn đề thị trường lao động thông qua kết quả thị trường lao động ở châu Á; nghiên cứu thị trường lao động trong một thế giới toàn cầu hoá; nghiên cứu cường độ lao động của tăng trưởng; xu hướng và yếu tố quyết định kinh tế vĩ mô. Nghiên cứu nội dung phát triển thị trường lao động một số quốc gia châu Á như: các vấn đề đặt ra và triển vọng phát triển của thị trường lao động ở Ấn Độ; những thách thức chính và các vấn đề chính sách thất nghiệp của thị trường lao động ở Indonesia; luật Lao động và các chính sách kinh tế ở Philippines; sự phát triển và thách thức trong chính sách chuyển đổi kinh tế đối với thị trường lao động ở Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa; đánh giá thị trường lao động Việt Nam và nghiên cứu hệ thống chính sách toàn dụng lao động đối với các nước châu Á. Cuốn sách “Thị trường lao động và phát triển kinh tế”, của Ravi Kanbur&Jan Svejnar (chỉnh sửa) ấn hành năm 200. Quyển sách phản ánh trong sự phát triển kinh tế nói chung đặc biệt đối với các nền kinh tế chuyển đổi nói riêng, việc phát triển thị trường lao động là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu.
Với sự cạnh tranh ngày càng gia tăng do tác động của toàn cầu hoá, thị trường sức lao động ngày càng linh hoạt hơn và tạo ra nhiều việc làm tốt hơn. Đồng thời, vấn đề an ninh, chính trị do phân hoá thu nhập từ lao động cũng diễn ra phức tạp, đòi hỏi phải 8 luan an có sự nhận thức mới hơn về thị trường lao động, nhất là về vấn đề xây dựng hệ thống vận hành, điều tiết thị trường lao động ở tầm vĩ mô. Tổng quát hơn, đó là nhận diện mới về thị trường lao động, về cấu trúc chức năng, hoạt động của thị trường lao động để đề xuất, xây dựng các chính sách thay thế phù hợp trong bối cảnh toàn cầu hoá. Tổ chức lao động thế giới năm 2013 đã xuất bản cuốn sách với nhan đề: “Research and Analysis of Vacancies and Skills Needs in the European Union,in the Republic of Moldova and Ukrainean” (Những nghiên cứu về nhu cầu tuyển dụng lao động có chuyên môn ở Liên minh châu Âu, tại Cộng hòa Moldova và Ukraina) cuốn sách chỉ ra: xu hướng dịch chuyển của lao động đang diễn ra mạnh mẽ tại các quốc gia Châu Âu.
Việc làm trong ngành nông nghiệp ngày càng giảm trong mọi nền kinh tế và ngành dịch vụ đang ngày càng phát triển mạnh. Ví dụ tại Cộng hòa Séc, trong khoảng từ năm 2010 đến 2020 các ngành nghề mới như vận tải, dịch vụ kinh doanh, dịch vụ ngoài thị trường sẽ tăng khoảng 14%, trong đó các ngành nghề có kỹ năng thấp trong các nhà máy, xây dựng sẽ giảm, việc làm sẽ tăng lên với người có trình độ, tay nghề cao. u hướng này cũng diễn ra tương tự tại nhiều quốc gia Châu Âu như Pháp, Italy, Ukraine… Tại Pháp nhu cầu lao động trong giáo dục, trong phát triển kinh tế sẽ tăng cao và giảm lao động trong nông nghiệp, công nghiệp nhẹ như: dệt may, da giày, gỗ; công nghiệp máy móc, kim loại. Các ngành sẽ cần nhiều lao động như truyền thông, giải trí, nghiên cứu… [93, tr.
Sự phân tích này cho chúng ta thấy sự thay đổi công nghệ luôn khiến các công ty phải đối mặt với một chu kì kinh tế bị rút ngắn và gia tăng sự cạnh tranh toàn cầu. Chỉ có rất ít ngành công nghiệp không chịu nhiều tác động vì sự phát triển công nghệ còn lại hầu hết đều phải chịu sự tác động này. Vì vậy, công nghệ, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo đã tác động không nhỏ đến nguồn và cơ cấu việc làm của chính con người. Để bổ sung cho hướng nghiên cứu về sự thay đổi nhu cầu kỹ năng lao động trên thế giới, năm 2014 Phil Martin và Manolo Abella cho ra đời cuốn sách: “Labour Markets and the Recruitment Industry: Trends, Challenges and 9 luan an Opportunities” (Thị trường lao động và ngành tuyển dụng: u hướng, cơ hội và thách thức), cũng trong năm này Tổ chức Lao động quốc tế xuất bản báo cáo “Thị trường lao động thế giới - World of Work Report”.
Hai tác phẩm chỉ ra: các quốc gia trên thế giới đều hướng đến phát triển nền kinh tế dựa trên tri thức, tăng năng suất lao động. Do vậy, “nguồn nhân lực trở thành nhân tố then chốt nâng cao năng suất lao động, cải thiện chất lượng việc làm và thúc đẩy tăng trưởng” [102, tr. Trong khi đó, hiện chỉ có 8% dân số thế giới từ 15 đến 64 tuổi có bằng tốt nghiệp cao đẳng; vì vậy trên quy mô toàn cầu đang tồn tại sự thiếu hụt rất lớn về lao động đã qua đào tạo. Theo dự án nghiên cứu của Tổ chức lao động quốc tế thì đến năm 2030, các nước công nghiệp sẽ thiếu hụt khoảng 40 triệu lao động tốt nghiệp cao đẳng và 45 triệu lao động có chuyên môn ở mức trung bình, và sẽ dư khoảng 10% trong số 950 triệu người chưa tốt nghiệp trung học tương đương với 95 triệu lao động [102, tr.
Như vậy các công trình nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của thị trường lao động tốt, đó sẽ là một trong những nhân tố quan trọng phát triển kinh tế bền vững. Đặc biệt trong bối cảnh của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xu hướng biến đổi nhân khẩu đang diễn ra theo nhiều hướng khác nhau tác động lớn đến sự thay đổi cung và cầu lao động trên quy mô toàn cầu. Các nghiên cứu về nhu cầu thị trường lao động trên thế giới và trình độ lao động hiện tại của các quốc gia đã chỉ ra: hiện nay đang tồn tại nhu cầu toàn cầu về lao động chuyên môn cao và nhu cầu đối với lực lượng lao động này sẽ ngày một gia tăng. Để tận dụng lợi thế cạnh tranh các quốc gia, các công ty đang chạy đua thu hút nhân tài bằng nhiều biện pháp như nâng lương, quan tâm đến đời sống xã hội người lao động; các quốc gia đã thay đổi thiết chế bằng cách nới lỏng các điều luật về di trú, cấp visa, thị thực… Để đào tạo nguồn nhân lực nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường, năm 2010 Di Gropello, Emanuela xuất bản cuốn “Kỹ năng cho thị trường lao động ở Philippines”.
Quyển sách trình bày những kỹ năng mà người lao động cần trang bị để tăng năng suất và chất lượng công việc, tăng khả năng cạnh tranh để có được 10 luan an việc làm tốt hơn; phân tích vai trò của hệ thống giáo dục đào tạo đối với việc trang bị kỹ năng cho người lao động. Ở Việt Nam trong những năm qua cũng có nhiều công trình nghiên cứu về thị trường lao động và dịch chuyển lao động, như: Cuốn sách “Thị trường lao động thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Quang Hiển do nhà xuất bản Thống kê ấn hành năm 1 5. Quyển sách trình bày những vấn đề cơ bản về thị trường sức lao động: sức lao động trở thành hàng hóa trong cơ chế thị trường, hàng hóa sức lao động tuân thủ theo quy luật cung - cầu, vấn đề thất nghiệp, sự vận động của thị trường lao động trên thế giới. Quyển sách mô tả thực trạng thị trường sức lao động ở Việt Nam trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,từ đó đưa ra phương hướng và giải pháp phát triển thị trường lao động ở Việt Nam bao gồm: phát triển thị trường lao động nông thôn, phát triển thị trường lao động ở các đô thị và khu công nghiệp tập trung, phát triển thị trường lao động khu vực không kết cấu, phát triển thị trường lao động ở vùng ven biển, phát triển thị trường lao động thông qua xuất khẩu lao động và giải pháp hoàn thiện thể chế, môi trường để thúc đẩy phát triển thị trường lao động.
Cuốn sách “Thị trường lao động: cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” của Phạm Đức Chính do nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành 2006 có nội dung tập trung phân tích cơ sở lý luận của thị trường sức lao động như những lý thuyết về thị trường sức lao động, việc làm, thất nghiệp, một số vấn đề có tính lý luận về nguồn lao động, vấn đề thất nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp, những yếu tố cấu thành và điều tiết thị trường sức lao động, mối quan hệ giữa cung - cầu sức lao động và tiền lương, v. Luận án tiến sĩ “Competitiveness of Vietnamese labor export in North - East Asia market: a comparison across ASEAN countries” (Khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu lao động Việt Nam ở thị trường Đông Bắc Á: nghiên cứu so sánh với các quốc gia ASAEN) tác giả Hoang Van Hung (2013). Luận án đã đề xuất một hệ thống chỉ tiêu để đánh giá năng lực cạnh tranh lao động xuất khẩu. Căn cứ vào các chỉ số này, luận án đánh giá theo hai cách tiếp cận: đánh giá trực tiếp từ người sử 11 luan an dụng lao động và đánh giá gián tiếp bằng cách so sánh năng lực của lao động xuất khẩu với yêu cầu của người sử dụng lao động.
Ngoài ra, luận án so sánh năng lực cạnh tranh về xuất khẩu lao động giữa các nước ASEAN tại các thị trường khác nhau. Căn cứ vào kết quả phân tích, luận án đề xuất giải pháp cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh của lao động Việt Nam trên thị trường quốc tế. Theo cách tiếp cận đó, luận án đã chỉ ra khoảng cách năng lực cạnh tranh giữa lao động Việt Nam và các nước ASEAN.