Chương 1. Cơ sở lý luận t chức thực hiện pháp luật về tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập. Thực trạng t chức thực hiện pháp luật về tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Định hướng, giải pháp và lộ trình t chức thực hiện pháp luật về tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đến năm 2030.
7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỰ CHỦ T I CH NH CỦA CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG LẬP 1. Một số khái niệm 1. Đơn vị sự nghiệp công lập Theo Nghị định 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 của Chính phủ, đơn vị sự nghiệp công lập được quy định như sau: Đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật. Đơn vị sự nghiệp công lập có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng theo quy định của pháp luật, cung cấp dịch vụ sự nghiệp công hoặc phục vụ quản lý nhà nước.
Đơn vị sự nghiệp công lập có một số đặc điểm như sau: Một là, đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị thuộc t chức chính trị, t chức chính trị - xã hội, các cơ quan hành chính nhà nước, hiệp hội và các doanh nghiệp nhà nước, trong đó chủ yếu là thuộc các cơ quan hành chính nhà nước. Hai là, đơn vị sự nghiệp công lập được nhà nước cấp nguồn kinh phí để đầu tư, xây dựng, mở rộng cơ sở vật chất để hoạt động. Các loại hình đơn vị sự nghiệp khác nhau, phân loại tự chủ tài chính khác nhau mà ngân sách nhà nước có sự hỗ trợ theo mức độ khác nhau. Ba là, việc thành lập các đơn vị sự nghiệp công lập nhằm cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công trong những lĩnh vực trong những lĩnh vực Nhà nước chịu trách nhiệm cung ứng thiết yếu hoặc khu vực tư nhân không có khả năng đầu tư hoặc không quan tâm đầu tư do không mang lại hiệu quả.
8 Bốn là, các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động theo cơ chế đ i mới theo hướng tự chủ tự chịu trách nhiệm về biên chế, tài chính, hạch toán độc lập. Năm là, các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động theo chế độ thủ trưởng. Tuy nhiên, nhằm đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, lạm quyền, tránh tình trạng vượt quyền, phòng chống tham nhũng,.pháp luật quy định thành lập Hội đồng quản lý tại các đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư trong một số trường hợp cần thiết. Tổ chức thực hiện pháp luật Theo Luật T chức Chính quyền địa phương 2015; sửa đ i, b sung năm 2019, quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở cấp tỉnh như sau: T chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn tỉnh; Quyết định và t chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh,… T chức thực hiện pháp luật là hoạt động được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các t chức và cá nhân được Nhà nước trao quyền để đảm bảo công tác triển khai, thực hiện pháp luật.
T chức thực hiện pháp luật phải tuân thủ trình tự, hình thức và thủ tục theo luật định. Từ thực tiễn đời sống xã hội, đôi khi xuất hiện nhiều tình huống khách quan mà trong quá trình xây dựng pháp luật chưa dự liệu hết được các tình huống đó sẽ xảy ra. Chính vì vậy, việc t chức thực hiện pháp luật đòi hỏi tính sáng tạo, linh hoạt, xử lý kịp thời và có hiệu quả các tình huống phát sinh trong thực tiễn đời sống xã hội. Thực hiện pháp luật bao gồm 04 hình thức tuân thủ pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật và thi hành pháp luật.
Cụ thể như sau: 9 - Tuân thủ pháp luật việc các cá nhân, t chức thực hiện pháp luật một cách thụ động để không vi phạm các quy định cấm đoán của pháp luật. - Sử dụng pháp luật là việc các t chức, cá nhân có thể sử dụng hay không sử dụng các quyền mà luật pháp cho phép. Theo đó, các chủ thể pháp luật có thể thực hiện hay không thực hiện quyền mà pháp luật cho phép. - Thi hành pháp luật là t chức thực hiện pháp luật một cách chủ động.
Theo đó, các t chức, cá nhân phải chủ động thực hiện một hành động nhất định theo quy định của pháp luật. - Áp dụng pháp luật là các cơ quan có thẩm quyền, căn cứ vào quy định của pháp luật để ra các quyết định và xử lý những vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm được Nhà nước giao phó. Việc phân chia các hình thức thực hiện pháp luật chỉ có tính chất tương đối, bởi vì trong thực tiễn cuộc sống xã hội có thể phát sinh nhiều tình huống khác nhau cần phải giải quyết. Do đó, các hình thức thực hiện pháp luật này không tồn tại riêng lẻ mà thường phải kết hợp cùng nhau, hình thức này bao gồm hình thức khác, thực hiện song song nhiều hình thức khác nhau khi các chủ thể thực thi quyền, nghĩa vụ của mình trong từng mối quan hệ được pháp luật quy định.
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề án, tác giả chỉ tiếp cận khía cạnh t chức thực hiện pháp luật về tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập ở góc độ thực tiễn đó là t chức, triển khai thực hiện cơ chế tự chủ tài chính. Theo đó, các đơn vị sự nghiệp y tế công lập được Nhà nước trao quyền tự quyết định, tự chịu trách nhiệm về các khoản thu, khoản chi, phân phối kết quả tài chính và thực hiện trích lập các quỹ của đơn vị mình nhưng không vượt quá mức khung theo các quy định của Nhà nước. Tổ chức thực hiện pháp luật về tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp y tế công lập 1. Pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp y tế công lập Pháp luật về tự chủ tài chính là đối với đơn vị sự nghiệp y tế công lập là những quy định về cơ chế tự chủ tài chính tự chịu trách nhiệm của đơn vị; là hệ thống chính sách do Nhà nước quy định, cho phép các đơn vị sự nghiệp y tế công lập được tự quyết định hoạt động của mình phù hợp với tình hình thực tế, các quy luật của kinh tế thị trường và không vượt mức khung do Nhà nước quy định.
Các đơn vị sự nghiệp y tế công lập tự chủ trong việc xác định chức năng, nhiệm vụ; tự chủ về t chức bộ máy và biên chế; tự chủ về tài chính, tài sản. Pháp luật về tự chủ tài chính là công cụ rất quan trọng trong quản lý Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và đơn vị sự nghiệp y tế công lập nói riêng. Theo Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 của Chính phủ quy định về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập, những nội dung tự chủ chủ tài chính bao gồm (i) Quản lý các nguồn thu, (ii) Quản lý các khoản chi thường xuyên giao tự chủ, (iii) Quản lý việc trích lập các quỹ và phân phối kết quả tài chính, (iv) Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Phân loại mức độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp y tế công lập Theo quy định tại Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 của Chính phủ, phân loại mức độ tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung, các đơn vị sự nghiệp y tế công lập nói riêng chia thành 4 nhóm, cụ thể như sau: – Nhóm 1: Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; – Nhóm 2: Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên; 11 – Nhóm 3: Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; – Nhóm 4: Đơn vị do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên Hình 1.
Phân loại mức tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập (Nguồn: Bộ Tài chính) Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư (Nhóm 1) đáp ứng một trong các điều kiện sau: là đơn vị có mức tự bảo đảm kinh phí chi thường xuyên xác định theo phương án quy định tại Điều 10 Nghị định số 60/2021/NĐ-CP bằng hoặc lớn hơn 100%; hoặc là đơn vị có mức tự bảo đảm chi đầu tư bằng hoặc lớn hơn mức trích khấu hao và hao mòn tài sản cố định của đơn vị. Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên (Nhóm 2) đáp ứng một trong các điều kiện sau: có mức tự bảo đảm kinh phí chi thường xuyên theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 60/2021/NĐ-CP bằng hoặc lớn hơn 100% và chưa tự bảo đảm chi đầu tư từ nguồn Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, nguồn thu phí được để lại chi 12 theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí, các nguồn tài chính hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (Nhóm 3) có mức tự bảo đảm kinh phí chi thường xuyên được quy định tại Điều 10 Nghị định số 60/2021/NĐ-CP từ 10% đến dưới 100%, được Nhà nước đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá chưa tính đủ chi phí và được phân loại như sau: đơn vị tự bảo đảm từ 10% đến dưới 30% chi thường xuyên; đơn vị tự bảo đảm từ 30% đến dưới 70% chi thường xuyên; đơn vị tự bảo đảm từ 70% đến dưới 100% chi thường xuyên. Đơn vị sự nghiệp công do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên là có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên được quy định tại Điều 10 Nghị định số 60/2021/NĐ-CP dưới 10%; hoặc đơn vị sự nghiệp công không có nguồn thu.
Tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập T chức thực hiện pháp luật về tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập là việc t chức, triển khai thực hiện cơ chế tự chủ tài chính.