Chương 1 Giới thiệu đề tài: đề cập tới lí do chọn đề tài, giới thiệu ngữ cảnh, tình hình chung liên quan đến bài toán, những khó khăn, thách thức của đề tài và quá trình thực hiện nghiên cứu, sau đó trình bày về mục tiêu, phạm vi và cấu trúc luận văn. • Chương 2 Các công trình liên quan: giới thiệu các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài trích xuất thông tin được tham khảo trong quá trình thực hiện nghiên cứu này. • Chương 3 Kiến thức nền tảng: trình bày những kiến thức nền tảng về các cách xử lý dữ liệu, các mô hình học máy, cũng như các kĩ thuật được sử dụng trong luận văn. • Chương 4 Phương pháp đề xuất: trình bày vào bài toán cụ thể của đề tài, đưa ra những vấn đề và các phương pháp giải quyết đã được áp dụng.
Trong đó, trình bày chi tiết cách thực hiện, kiến trúc hệ thống và mô hình đề xuất, bao gồm cả các thư viện và công nghệ áp dụng. Đây chính là nền tảng cho phần đánh giá và kiểm thử tiếp theo. • Chương 5 Kết quả thực nghiệm: trình bày các tập dữ liệu được sử dụng, các thông tin cơ bản và dữ liệu mẫu. Sau đó, tác giả giới thiệu từng thí nghiệm đã được tiến hành và đánh giá các kết quả thí nghiệm thu được.
• Chương 6 Tổng kết: tổng kết mô hình được sử dụng trong đề tài, kết quả thí nghiệm, đưa ra những điểm nổi bật và hạn chế của đề tài, hướng phát triển, mở rộng của đề tài trong tương lai. 5 Chương 2 Các công trình liên quan Trích xuất thông tin (Information Extraction) [12] là nhiệm vụ trích xuất tự động thông tin có cấu trúc từ các tài liệu không có cấu trúc hoặc bán cấu trúc mà máy có thể đọc được và các nguồn được biểu diễn điện tử khác. Trong hầu hết các trường hợp, hoạt động này liên quan đến việc xử lý các văn bản ngôn ngữ của con người bằng phương pháp xử lý ngôn ngữ tự nhiên. Các hoạt động gần đây trong xử lý tài liệu đa phương tiện như chú thích tự động và trích xuất nội dung ra khỏi hình ảnh/ âm thanh/ video/ tài liệu có thể được coi là trích xuất thông tin.
Dữ liệu ngôn ngữ tự nhiên thường được hiểu là loại dữ liệu không có cấu trúc. Tuy nhiên, trong thực tế, dữ liệu văn bản được tạo nên bởi nhiều cấu trúc nhưng hầu hết đều không rõ ràng khiến quá trình tìm kiếm và phân tích thông tin trở nên khó khăn hơn. Mục tiêu của việc nghiên cứu các phương pháp rút trích thông tin là tự động chuyển đổi dữ liệu từ dạng không có cấu trúc sang dạng có cấu trúc ngữ nghĩa, từ đó tiến hành phân tích, xác định và phân loại các thực thể tồn tại trong văn bản cũng như các mối quan hệ giữa các thực thể đó. Trong một số trường hợp, hệ thống còn có khả năng sinh ra các loại thông tin ẩn khác bằng cách suy luận từ những thông tin về thực thể và mối quan hệ đã được rút trích trước đó.
Tất cả các thông tin, kết quả của quá trình này thường được lưu lại nhằm phục vụ cho các tác vụ khác trong hệ thống; do đó, các tác vụ sau có đạt hiệu quả cao hay không đều phụ thuộc một phần vào thông tin rút trích được ở tác vụ này. Các công trình nghiên cứu cho bài toán trích xuất thông tin có thể được chia thành 4 hướng chính: • Đề xuất kiến trúc mạng mới: Các tác giả tìm kiếm ý tưởng xây dựng kiến trúc mạng mới [17] [23] để phù hợp với cấu trúc thông tin 6 của dữ liệu đoạn văn. Các bài báo này thường tập trung vào cải thiện bước nhúng thông tin, chuyển đổi thông tin từ văn bản sang dạng véc tơ để mô hình học, cũng như thay đổi kiến trúc mạng chính dựa trên những phân tích về đặc điểm của văn bản. • Làm giàu dữ liệu: Ngôn ngữ có rất nhiều từ vựng, và cách diễn đạt từ để tạo thành câu văn cũng vô cùng phong phú.
Do đó, mô hình sẽ hoạt động tốt hơn nếu được học trên tập dữ liệu lớn, phong phú, có tính bao quát. Tuy nhiên, việc thu thập được dữ liệu lớn đáp ứng yêu cầu như vậy là một công việc khó khăn, đòi hỏi rất nhiều công sức cũng như tiền của. Nhằm mục đích tăng lượng dữ liệu cung cấp cho mô hình học, với một lượng công sức bỏ ra chấp nhận được, các tác giả đã lựa chọn áp dụng các kĩ thuật làm giàu dữ liệu. [7] • Bổ sung thông tin cho mô hình: Lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, máy học nói chung hay xử lý ngôn ngữ tự nhiên đã xuất hiện được một khoảng thời gian, và có sự bùng nổ gần đây.
Bài toán trích xuất thông tin từ văn bản là một bài toán nguyên tử, đóng vai trò tiên quyết trong hầu hết các tác vụ xử lý ngôn ngữ tự nhiên dạng văn bản. Do vậy, các nghiên cứu sinh, các nhà khoa học đã tìm hiểu và phát triển ra những phương pháp, mô hình hoạt động tốt trên những tập dữ liệu sẵn có. Tuy nhiên, với lượng thông tin cố định được cung cấp tại những tập dữ liệu khiêm tốn ban đầu, ta khó có thể vượt qua được các thành tựu đi trước, để đạt được kết quả tốt hơn. Vì thế, một số bài báo [26] [25] đã tiến hành tìm tòi các thông tin mới, hữu ích giúp mô hình có thêm cơ sở để đưa ra quyết định.
• Sử dụng mô hình kết hợp: Ngoài các phương pháp kể trên, đối với dữ liệu tiếng Việt, tác giả một số bài báo [21] sử dụng kết hợp các mô hình đơn vào trong một mô hình kết hợp để giải quyết bài toán. Ý tưởng chính của phương pháp này là tận dụng lợi thế của từng mô hình đơn cho các dữ liệu khác nhau, và dùng cơ chế đóng góp trọng số để lấy kết quả dự đoán cuối cùng.1 Các mô hình mới Bắt đầu với bài báo đặt nền móng cho sự phát triển của các nghiên cứu mới của tác vụ trích xuất thông tin văn bản ở thời điểm hiện tại là A General 7 Framework for Information Extraction using Dynamic Span Graphs [17] được công bố vào năm 2019. Phần lớn các bài toán trích xuất thông tin yêu cầu việc định danh và phân loại các cụm từ, bao gồm xác định danh tính thực thể (naming entity recognition - NER), trích xuất quan hệ (relation extraction), phân giải đồng tham chiếu (coreference resolution),. Với quan sát rằng, kiến thức từ việc học tác vụ này có thể hữu ích với các tác vụ còn lại, tác giả Yi Luan cùng các đồng sự đã lồng ghép các tác vụ trên vào trong một luồng thực thi như sau: phân giải đồng tham chiếu → xác định danh tính thực thể → trích xuất quan hệ.
Tác giả phát triển một nền tảng trích xuất thông tin lấy tên là DyGIE được sử dụng để nhận dạng và phân loại các thực thể, quan hệ, và đồng tham chiếu trong một mô hình đa tác vụ. DyGIE duyệt qua tất cả các cụm từ trong từng câu và tính toán các véc tơ chứa thông tin ngữ cảnh cục bộ cho mỗi cụm từ. Mô hình sử dụng đồ thị động để kết hợp thông tin toàn cục vào biểu diễn của các cụm từ. Trong quá trình huấn luyện, mô hình xác định các đoạn văn bản giống nhất và coi chúng như các nút trong cấu trúc đồ thị.
Các cung trong đồ thị được đánh trọng số tin cậy tương ứng với đồng tham chiếu và quan hệ giữa các nút. Sau đó, các biểu diễn cụm từ được tinh chỉnh bằng cách sử dụng ngữ cảnh rộng hơn thông qua các bản cập nhật được lan truyền từ các tác vụ xác định loại quan hệ và thực thể cùng tham chiếu. Cuối cùng, véc tơ biểu diễn này được sử dụng để dự đoán loại thực thể, quan hệ và đồng tham chiếu của các đối tượng. Kiến trúc mô hình DyGIE bao gồm 5 lớp: • Lớp biểu diễn từ (Token representation layer ): ta sử dụng BiLSTM để rút trích đặc trưng, chồng kết quả đầu ra của 2 lớp LSTM lại ta thu được véc tơ đầu ra.
• Lớp biểu diễn span (Span representation layer ): kết hợp các véc tơ mã hóa bởi BiLSTM trên với các chỉ mục đánh dấu khởi đầu và kết thúc của cụm từ để chuẩn bị thông tin đưa vào đồ thị. • Lớp lan truyền đồng tham chiếu (Coreference Propagation Layer ): quá trình lan truyền bắt đầu từ biểu diễn cụm gi0 , ở mỗi vòng lặp t, ta tính véc tơ cập nhật utC rồi cập nhật cho git. Thực hiện lại việc này tới lần thứ N khi đó ta được biểu diễn giN chứa thông tin của N cụm từ trước đó. 8 • Lớp lan truyền quan hệ (Relation Propagation Layer ): sử dụng giN làm đầu vào, và xử lý tính toán, cập nhật tương tự như ở bước lan truyền đồng tham chiếu.
Cuối cùng ta được biểu diễn giN +M. • Lớp dự đoán cuối cùng: sử dụng giN +M để dự đoán nhãn thực thể E và nhãn quan hệ R. Với tác vụ dự đoán nhãn thực thể, sử dụng mạng nơ ron truyền thẳng (Feed Forward Neuron Network - FFNN ) để tính PE (i) cho mỗi cụm từ si. Với các tác vụ dự đoán quan hệ, ta sử dụng cặp giN +M , gjN +M qua FFNN để tính xác suất PR (i, j) giữa 2 cụm si và sj.
Với yêu cầu xác định đồng tham chiếu, ta dùng đầu ra của lớp lan truyền đồng tham chiếu giN , gjN để tính toán mối liên hệ giữa si và sj. Sau khi có được kiến trúc mô hình ở trên, ta sẽ đi vào thực hiện xây dựng đồ thị động và tinh chỉnh lại biểu diễn của các cụm từ. Các nút trong đồ thị là véc tơ biểu diễn git ∈ Rd cho lần lặp thứ t. Các cạnh được đánh trọng số bằng điểm đồng tham chiếu hoặc điểm tin cậy cho quan hệ, các điểm số này sẽ được huấn luyện bằng mô hình.
Với mô hình và các thiết kế kiến trúc được xác định ở phần trên, ta sẽ bước sang phần huấn luyện mô hình. Hàm mất mát được sử dụng ở đây sẽ là: X ∆E logP (E ∗ |C, R, D) + ∆R logP (R∗ |C, D) + ∆C logP (C ∗ |D) (D,R∗ ,E ∗ ,C ∗ )∈D (2.1) Trong đó E∗, R∗ , C ∗ là cấu trúc đúng của các loại thực thể, mối quan hệ và đồng tham chiếu. D là tập huấn luyện, ∆E , ∆R , ∆C là các siêu tham số để điều chỉnh độ quan trọng của các tác vụ. Tác giả sử dụng một lớp LSTM 200 chiều ẩn.