lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề án gồm 2 chương. Chƣơng 1: Khái quát chung về quyền nuôi con sau ly hôn và quy định của pháp luật hiện hành về tranh chấp thay đổi quyền nuôi con sau ly hôn. Chƣơng 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp thay đổi quyền nuôi con sau ly hôn tại các Tòa án trên địa bàn tỉnh Nam Định và kiến nghị hoàn thiện. 9 CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN NUÔI CON SAU LY HÔN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THAY ĐỔI QUYỀN NUÔI CON SAU LY HÔN 1.1 Khái niệm quyền nuôi con và tranh chấp thay đổi quyền nuôi con sau ly hôn 1.1 Khái niệm quyền nuôi con sau ly hôn Con cái được xem là tài sản vô giá, là niềm vui, niềm hạnh phúc, là sợi dây tinh thần kết nối gia đình, là một phần máu thịt của cha mẹ.
Chính vì lẽ đó đối với cha mẹ không gì quý hơn con cái họ. Trong mọi lựa chọn con cái có thể được đặt lên hàng đầu. Họ có thể hy sinh, có thể làm mọi thứ vì con của họ. Cuộc sống hôn nhân không phải lúc nào vợ chồng cũng đồng hành cùng nhau đến cuối con đường, vì một lý do nào đó hôn nhân rạn nứt dẫn đến tình trạng ly hôn, lúc này những vấn đề về nuôi dưỡng con cái sẽ phát sinh.
Con cái sẽ ở với cha hay mẹ? đây là điều luôn được các bên trong quan hệ hôn nhân đặc biệt quan tâm, thậm chí xảy ra những tranh chấp với nhau để giành quyền nuôi con sau ly hôn. Căn cứ theo Luật HN&GĐ năm 2014 “ly hôn được hiểu là sự kiện dẫn đến việc chấm dứt quan hệ hôn nhân, quan hệ vợ chồng theo nội dung bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án” [22, Điều 3, Khoản 14]. Về quyền nuôi con khi ly hôn (hay còn gọi là quyền trực tiếp nuôi con sau ly hôn) căn cứ theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 như sau: Quyền nuôi con khi ly hôn là quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con của vợ hoặc chồng sau khi có quyết định ly hôn của Tòa án. Việc quyết định về người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, chỉ áp dụng đối với trường hợp con chưa thành niên và con đã thành niên nhưng bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi [22, Điều 81].
Điều này có nghĩa là nếu con đã trên 18 tuổi và đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì việc quyết định ở với bố hoặc mẹ hoàn toàn là quyết định của người con này. 10 Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật khi ly hôn việc quyết định người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con trước hết phụ thuộc vào sự thỏa thuận của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân. Trong trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận được việc nuôi con (hay có tranh chấp trong việc quyết định ai là người trực tiếp nuôi con) thì việc giải quyết quyền nuôi con khi ly hôn sẽ được xác định theo quyết của Tòa án trên cơ sở quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 như sau: Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con [22, Điều 81]. Điều kiện ở đây được hiểu là điều kiện vật chất cơ bản như: Ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập…và điều kiện tinh thần bao gồm: thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục, tình cảm dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho trẻ vui chơi giải trí, nhân cách đạo đức, trình độ học vấn… của cha, mẹ. Nói tóm lại, việc vợ chồng ly hôn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của con trẻ khi bị thiếu thốn tình cảm của cha, mẹ, không được hưởng trọn vẹn tình yêu thương, chăm sóc, đùm bọc, không có được một mái ấm gia đình theo đúng nghĩa. Trong việc xây dựng các quy định của pháp luật về HN&GĐ có thể nhận thấy khá 11 rõ tư tưởng Á Đông đó là việc coi trọng tầm quan trọng của gia đình theo đúng nghĩa là tế bào của xã hội.
Từ những nhận định trên có thể hiểu “quyền nuôi con sau ly hôn là nuôi dưỡng, dạy dỗ, giáo dục con cái của chồng hoặc vợ do thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án”.2 Khái niệm tranh chấp thay đổi quyền nuôi con sau ly hôn Định nghĩa tranh chấp chưa được thể hiện trong các văn bản pháp luật của Việt Nam. Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 26, Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có thể hiểu “Tranh chấp dân sự là những xung đột lợi ích pháp lý giữa hai hay nhiều bên trong lĩnh vực dân sự, đó có thể là tranh chấp xảy ra giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự về các quan hệ nhân thân được pháp luật bảo vệ” [23]. Trong đó các loại tranh chấp dân sự phổ biến bao gồm: tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, tranh chấp về hợp đồng dân sự, tranh chấp nổi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và các vấn đề ly hôn… Khi vợ chồng ly hôn đồng nghĩa với quan hệ hôn nhân chấm dứt, vợ chồng lúc này sẽ không tiếp tục chung sống cùng nhau. Do đó, giữa vợ chồng cần xác định một người trực tiếp nuôi dạy con.
Tòa án không tước đi quyền nuôi con của cha mẹ, tuy nhiên Tòa án sẽ quyết định ai là người trực tiếp nuôi dạy con trong trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận được ai là người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Căn cứ theo Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con, trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, nếu con đủ từ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con [22, Điều 82, Khoản 2]. Như vậy, trong trường hợp vợ, chồng không thể thỏa thuận được về việc xác định người trực tiếp nuôi con thì cần phải đặt ra phương án giải quyết vấn đề này. Sau khi ly hôn ngoài những vấn đề tranh chấp thường được đặt ra đối với tài sản chung của vợ chồng thì hiện nay trên thực tế những vụ án tranh chấp về quyền 12 nuôi con của các cặp vợ chồng cũng ngày càng phổ biến.
Kết quả của việc giải quyết tranh chấp quyền nuôi con là việc xác định người trực tiếp nuôi con là vợ hay chồng sau ly hôn. Người trực tiếp nuôi con là người hàng ngày kề cận, chung sống cùng con, đưa đón, dạy dỗ, chăm sóc, giáo dục… Người trực tiếp nuôi con có lợi về khoảng cách đối với con. Người trực tiếp nuôi con phải đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, không chỉ là đáp ứng nhu cầu tối thiểu mà còn bao gồm những điều kiện cần thiết cho sự phát triển về thể chất và trí tuệ của con. Quy định này nằm trong Luật HN&GĐ năm 2014 về quyền được chăm sóc, giáo dục các con và trách nhiệm của các chủ thể cũng như hoàn toàn phù hợp với quy định trong Luật trẻ em.
Theo đó, khoản 1 Điều 16 Luật trẻ em đã quy định: Trẻ em có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn điện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân [25, Điều 16, Khoản 1] và: Cha mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện quyền học tập, hoàn thành chương trình giáo dục phổ cập theo quy đinh của pháp luật, tạo điều kiện cho trẻ em theo học trình độ lớp 6 hoặc trình độ cao hơn [25, Điều 99, Khoản 2]. Hơn thế nữa, Luật trẻ em quy định trách nhiệm giáo dục trẻ em không chỉ là nghĩa vụ của cha, mẹ mà còn là sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, Nhà nước và xã hội cùng phối hợp chặt chẽ với nhau. Bên cạnh đó, cha hoặc mẹ người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn vẫn có quyền và nghĩa vụ với con. Căn cứ Điều 82 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định cụ thể như sau: 1.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp 13 nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó [22].
Sau khi vợ chồng ly hôn, việc giao con cho ai nuôi phải dựa trên nguyên tắc vì quyền lợi mọi mặt của con tất cả những quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đều nhằm mục đích bảo đảm cho con có một cuộc sống tốt nhất. Quyền lợi của con, nghĩa vụ của cha mẹ không chỉ xác định tại thời điểm mà vợ chồng ly hôn mà trong suốt quá trình đó, cho đến khi con trưởng thành, trở thành một công dân độc lập theo quy định của pháp luật.