CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu ở trẻ em Theo định nghĩa của Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ, trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu (Adverse Childhood Experiences – ACEs) là thuật ngữ được sử dụng để mô tả tất cả các loại lạm dụng, ngược đãi, bỏ bê hay những trải nghiệm khác có khả năng gây thương tổn nghiêm trọng xảy ra với trẻ dưới 18 tuổi. Tổ chức Y tế Thế giới – WHO (2015) đã xác định “Trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu được hiểu là những nguồn gây căng thẳng thường xuyên mà trẻ em phải chịu đựng trong giai đoạn đầu đời”.
Theo đó, WHO đã liệt kê 13 trải nghiệm được xác định là có hại đối với sự phát triển của trẻ gồm: (1) Lạm dụng thể chất, (2) lạm dụng cảm xúc, (3) lạm dụng tình dục, (4) người nhà lạm dụng chất, (5) người nhà bị giam giữ, (6) người nhà bị RLTT, (7) bạo lực gia đình, (8) bố mẹ ly thân hoặc ly dị/qua đời, (9) bỏ bê cảm xúc, (10) bỏ bê thể chất, (11) bắt nạt học đường, (12) bạo lực cộng đồng, (13) bạo lực tập thể. Những trải nghiệm này được xếp vào 5 nhóm gồm lạm dụng, bỏ bê, rối loạn chức năng gia đình, bạo lực gia đình và bạo lực xã hội. Khi nói về trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu, các nhà tâm lý, nhà khoa học, Tổ chức Y tế Thế giới và một số tổ chức khác trên thế giới thường sử dụng kèm theo từ “exposure” (phơi nhiễm) để chỉ về khả năng “nhiễm” bệnh hoặc cá nhân tập nhiễm rối loạn khi tiếp xúc với các trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu – ACEs [3]. Trên thế giới, nhìn chung các nghiên cứu đều nhận định chung rằng trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu là phổ biến ở các tầng lớp, thành phần xã hội khác nhau.
Theo Felitti và cộng sự (2019) và Tổ chức Y tế Thế giới (2018) thì 8 những trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu có mối liên hệ chặt chẽ không chỉ với tất cả các loại rối loạn tâm thần như trầm cảm, lo lắng, hung hăng, lạm dụng chất kích thích và hành vi tự tử mà còn cả một loạt các kết quả sức khỏe tiêu cực như béo phì, bệnh tim mạch, ung thư và tiểu đường (Carr, Martins, Stingel, Lemgruber, & Juruena, 2013; Danese & Tan, 2014; Felitti và cộng sự, 2019; Safren, Gershuny, Marzol, Otto, & Pollack, 2002; Teisl & Cicchetti, 2008) [63]. Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng trải nghiệm trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu dự đoán hành vi phạm pháp của thanh thiếu niên (Baglivio và cộng sự, 2014; Baglivio, Wolff, & Piquero, 2015) bao gồm việc tham gia vào các hành vi phạm pháp nghiêm trọng, bạo lực (Fox, Perez, Cass, Baglivio, & Epps, 2015). Các nghiên cứu trên cũng tương đồng với nhận định trong báo cáo của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) về tình hình trẻ em Thế giới năm 2021: Sức khỏe tâm thần gắn liền với những thời điểm quan trọng trong sự phát triển của não bộ, có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như căng thẳng độc hại do những trải nghiệm tuổi thơ bất lợi gây ra, chẳng hạn như xâm hại thể chất và cảm xúc, xao nhãng kéo dài và bạo lực. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc tiếp xúc với ít nhất bốn trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu có mối liên hệ mật thiết tới việc đối mặt với rủi ro tình dục, các tình trạng sức khỏe tâm thần và lạm dụng rượu bia; thậm chí còn liên quan chặt chẽ hơn đến vấn đề sử dụng ma túy, bạo lực giữa các cá nhân và tự gây bạo lực [78].
Về lâu dài, trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu tác động đến tình trạng kinh tế và kết quả xã hội như thành tích giáo dục và việc làm (Metzler, Merrick, Klevens, Ports, & Ford, 2017). Tuy vậy, ở Việt Nam hiểu biết về hậu quả to lớn và cơ chế tác động của trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu vẫn còn rất hạn chế. Những người bị lạm dụng thể chất hoặc tình dục thời thơ ấu có nhiều khả năng phải nhập viện tâm thần hơn; có sớm hơn, lâu hơn và nhiều hơn nữa. Kessler và cộng sự đã phân tích dữ liệu từ 21 quốc gia và họ kết luận 9 rằng “Những trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu rất phổ biến và có liên quan đến nhau”.
Họ cũng phát hiện ra rằng “Những trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu liên quan đến chức năng gia đình không tốt (ví dụ như bệnh tâm thần của cha mẹ, ngược đãi trẻ em, bỏ bê) là những yếu tố dự báo rối loạn tâm thần ở trẻ sau này mạnh nhất” [46]. Nghiên cứu của Merrick và cộng sự, ở Mỹ lạm dụng cảm xúc là phổ biến nhất, tiếp theo là chia ly của bố mẹ và lạm dụng chất gây nghiện trong gia đình [57]. Báo cáo ở các nước Đông Âu của Bellis và cộng sự cho thấy trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu khá cao ở 2 nhóm lạm dụng thể chất, người thân nghiện rượu, nhưng lại thấp ở nhóm người nhà lạm dụng ma túy và lạm dụng tình dục [16]. Ở Brazil, Soares và cộng sự cho biết những trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu phổ biến nhất là cha mẹ ly hôn/ly thân, bỏ bê tình cảm và bạo lực gia đình [67].
Ở Trung Quốc, trải nghiệm phổ biến nhất là lạm dụng thể chất, bạo lực gia đình. Ở Việt Nam, các trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu được báo cáo nhiều nhất là lạm dụng cảm xúc, lạm dụng thể chất và bạo lực gia đình [70]; hoặc bỏ bê tình cảm và lạm dụng cảm xúc [9]. Tỷ lệ phơi nhiễm trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu cũng được đánh giá là có khác biệt về giới. Nhìn chung, tỷ lệ phơi nhiễm ở nữ thấp hơn ở nam [27], [66], [69].
Nhưng mối quan hệ giữa giới tính và sự tăng lên của số trải nghiệm là khác nhau. Trong khi phơi nhiễm ở nữ tăng thuận chiều với số trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu tăng lên được mô tả ở nghiên cứu của Felitti và cộng sự, Soares và cộng sự [27], [66] thì xu hướng này biểu hiện không rõ ràng ở nghiên cứu của Tran và cộng sự [69]. Mặc dù vậy, sự khác biệt này không nên chỉ được giải thích bởi đặc điểm giới tính, mà còn có thể liên quan đến ứng xử văn hóa (coi trọng giới nào hơn) hoặc mức độ bảo hộ của pháp luật về giới ở mỗi quốc gia. Như vậy, tỷ lệ phơi nhiễm trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu cũng được đánh giá là có khác biệt về giới và mỗi quốc gia khác nhau thì 10 mức độ phổ biến của từng trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu trong các cộng đồng là khác nhau và có thể thay đổi theo thời gian [64].
Tỷ lệ có trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu trong dân số từ khoảng trên 50% trở lên [3]. Một số nghiên cứu dịch tễ học quy mô lớn về trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu ở một số quốc gia. Các nghiên cứu thường đã báo cáo tỷ lệ phơi nhiễm trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu cao, chẳng hạn, 62% ở người trưởng thành Mỹ (Merrick, Ford, Ports, & Guinn, 2018), 47% ở người lớn ở Vương quốc Anh (Bellis, Lowey, Leckenby, Hughes và Harrison, 2014) và 53% trong số thanh thiếu niên và người lớn ở Đông Âu (Bellis, Hughes và các cộng sự, 2014) báo cáo đã trải qua ít nhất một trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu. Số lượng người trả lời báo cáo từ 3 trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu trở lên cũng cao ở nhiều quốc gia (ví dụ: Bellis, Hughes và các cộng sự, 2014; Merrick và các cộng sự, 2018).
Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu về trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu đã được thực hiện ở các quốc gia có thu nhập cao (Blum, Li, & Naranjo-Rivera, 2019). Từ quan điểm sức khỏe toàn cầu, nhiều thông tin hơn về tỷ lệ trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu ở các quốc gia có thu nhập thấp đến trung bình là rất quan trọng, bởi vì các mô hình trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu và các yếu tố liên quan có thể khác nhau ở các xã hội khác nhau bối cảnh kinh tế (Hughes và cộng sự, 2017). Ví dụ, khó khăn về kinh tế xã hội liên quan đến mức độ phát triển kinh tế thấp hơn của các quốc gia có thu nhập thấp đến trung bình có thể làm tăng nguy cơ trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu (Tổ chức Y tế Thế giới, 2018). Trong bối cảnh này, một yếu tố quan trọng trong dịch tễ học của trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu là đánh giá một loạt trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu khác nhau, điều này là cần thiết để hiểu được trải nghiệm và tác động tổng thể đối với dân số liên quan đến (Liming & Grube, 2018).
11 Trong báo cáo tình hình trẻ em thế giới năm 2021 của UNICEF cho biết tại những quốc gia kém phát triển nhất trên thế giới, 83% trẻ em từng bị người chăm sóc kỷ luật bằng bạo lực và 22% trẻ em đang tham gia một hình thức lao động trẻ em bất kỳ. Hơn 170,000 trẻ em ở Việt Nam thiếu sự chăm sóc của cha mẹ, ở trong tình trạng nghèo khổ hoặc bị bỏ rơi. Báo cáo mới nhất đo lường các chỉ số phát triển bền vững về trẻ em và phụ nữ cho thấy 12.5% trẻ em từ 0 đến 15 tuổi ở Việt Nam chỉ sống với mẹ [77]. Theo số liệu do Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNICEF) cung cấp cho thấy, khoảng 68.4% trẻ em từng bị cha mẹ, người chăm sóc bạo lực ngay tại nhà.
Do đó, Việt Nam đang xếp thứ 27/75 trong số các quốc gia xảy ra những vấn đề về bạo lực, xâm hại đối với phụ nữ và trẻ em gái. Cứ 20 phụ nữ/trẻ em gái ở Việt Nam thì có 1 người từng bị xâm hại tình dục và/hoặc bạo lực thân thể trước năm 15 tuổi. Cứ 10 trẻ em Việt Nam từ 1 đến 14 tuổi thì có hơn 7 em (72.4%) nói rằng các em đã từng bị các thành viên trong gia đình tát, mắng hoặc bị đánh vào tai hoặc vào mặt.