Báo cáo tổng kết về dân tộc và tôn giáo trong thời kỳ chuyển đổi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Báo cáo nghiên cứu tổng kết tài liệu tham khảo vấn đề dân tộc và tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở, thống kê phân tích số liệu, đánh giá xu hướng phát triển

Chuyên ngành

Chủ nghĩa xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo tổng kết

2021

125
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

DẪN NHẬP

1. DÂN TỘC VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH MỚI

MỤC TIÊU CHƯƠNG

NỘI DUNG CHƯƠNG

1.1. Hai cách tiếp cận khái niệm dân tộc

1.2. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc

1.3. Hai xu hướng khách quan của sự phát triển quan hệ dân tộc

1.4. Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc

1.5. Việt Nam và các vấn đề quốc gia – dân tộc trong hội nhập quốc tế

1.6. Bối cảnh quốc tế tác động đến vấn đề quốc gia – dân tộc

1.7. Bối cảnh trong nước chi phối đến vấn đề quốc gia – dân tộc

1.8. Những khuynh hướng phổ biến đối với vấn đề quốc gia - dân tộc

1.9. Những tác động của toàn cầu hóa đến các quốc gia dân tộc

1.10. Những tác động tiêu cực và âm mưu của các thế lực thù địch đối với vấn đề dân tộc ở Việt Nam

1.11. Đặc điểm và tình hình KTXH các DTTS trong nước

1.12. Những đặc điểm chung

1.13. Những đặc điểm cụ thể ở từng lĩnh vực

1.14. Về dân số và nhân khẩu học

1.15. Về phát triển kinh tế

1.16. Về cơ sở hạ tầng và điều kiện sống

1.17. Về lĩnh vực văn hóa - xã hội

1.18. Tác động của Covid-19 tới một số cộng đồng DTTS tại Việt Nam

1.19. Ảnh hưởng bởi giãn cách xã hội

1.20. Các hình thức ứng phó với ảnh hưởng

1.21. Cảm nhận về tác động của ảnh hưởng do dãn cách đến các khía cạnh đời sống gia đình và xã hội

1.22. Hướng về tương lai

1.23. Đánh giá chung

1.24. Một số hạn chế, bất cập

1.25. Nguyên nhân của hạn chế, bất cập

1.26. Những vấn đề đặt ra và quan điểm, chính sách dân tộc trong thời kỳ mới

1.27. Những vấn đề đặt ra đối với công tác dân tộc trong thời kỳ mới

1.28. Quan điểm công tác dân tộc trong thời kỳ mới

1.29. Quan điểm giải quyết vấn đề quốc gia – dân tộc

1.30. Quan điểm giải quyết vấn đề dân tộc trong nước

1.31. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước

1.32. Về kinh tế

1.33. Về chính trị - xã hội

1.34. Về quốc phòng an ninh

1.35. Những mục tiêu về công tác dân tộc trong thời kỳ mới

1.36. Mục tiêu tổng quát

1.37. Mục tiêu cụ thể đến năm 2025

1.38. Mục tiêu cụ thể đến năm 2030

1.39. Định hướng và giải pháp phát triển KTXH các DTTS

1.40. Định hướng phát triển kinh tế – xã hội các dân tộc thiểu số

1.41. Giải pháp phát triển kinh tế – xã hội các dân tộc thiểu số

1.42. Về phát triển kinh tế

1.43. Về lĩnh vực văn hóa-xã hội

1.44. Về quốc phòng, an ninh

VẤN ĐỀ THẢO LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

2. TÔN GIÁO VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

MỤC TIÊU CHƯƠNG

NỘI DUNG CHƯƠNG

2.1. Lý luận chung về tôn giáo

2.2. Bản chất, nguồn gốc và tính chất của Tôn giáo

2.3. Bản chất của tôn giáo

2.4. Nguồn gốc của tôn giáo

2.5. Tính chất của tôn giáo

2.6. Phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng và mê tín dị đoan

2.7. Sự giống nhau và khác nhau giữa tôn giáo và tín ngưỡng

2.8. Sự giống nhau và khác nhau giữa tín ngưỡng với mê tín dị đoan

2.9. Mối quan hệ giữa tôn giáo, tín ngưỡng và mê tín dị đoan

2.10. Chức năng và vai trò của tôn giáo

2.11. Chức năng của tôn giáo

2.12. Vai trò của tôn giáo trong đời sống

2.13. Tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội

2.14. Đặc điểm và tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

2.15. Những đặc điểm của tôn giáo ở Việt Nam

2.16. Tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

2.17. Tình hình chung

2.18. Công tác tham mưu xây dựng chính sách, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và văn bản quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

2.19. Công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

2.20. Tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo

2.21. Công tác đối ngoại tôn giáo và đấu tranh nhân quyền

2.22. Giải quyết vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

2.23. Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo

2.24. Quan điểm giải quyết vấn đề tôn giáo

2.25. Chính sách tôn giáo

2.26. Một số nhiệm vụ cần thực hiện để triển khai hiệu quả chính sách tôn giáo

VẤN ĐỀ THẢO LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

3. NHẬN DIỆN VÀ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ DÂN TỘC - TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

MỤC TIÊU CHƯƠNG

NỘI DUNG CHƯƠNG

3.1. Bản chất mối quan hệ dân tộc – tôn giáo

3.2. Đặc điểm của mối quan hệ dân tộc – tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

3.3. Đoàn kết giữa tôn giáo và dân tộc vẫn trở thành xu thế nổi trội

3.4. Sự gắn kết giữa tôn giáo và dân tộc tạo bản sắc văn hoá trước xu thế toàn cầu hoá

3.5. Hình thành các cộng đồng dân tộc - tôn giáo

3.6. Hình thành các mối quan hệ dân tộc - tôn giáo xuyên quốc gia và liên khu vực

3.7. Biến đổi các mối quan hệ gia đình, dòng tộc

3.8. Tiềm ẩn những nguy cơ làm rạn nứt khối đại đoàn kết dân tộc, gây bất ổn về an ninh chính trị, xã hội

3.9. Một số gợi ý giải quyết mối quan hệ dân tộc – tôn giáo ở Việt Nam

VẤN ĐỀ THẢO LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi lên chủ nghĩa xã hội

Trong bối cảnh chuyển đổi lên chủ nghĩa xã hội, vấn đề dân tộctôn giáo tại Việt Nam trở thành một trong những chủ đề quan trọng, phản ánh sự đa dạng văn hóa và lịch sử phát triển của đất nước. Dân tộc Việt Nam gồm 54 cộng đồng tộc người, mỗi cộng đồng mang trong mình những giá trị văn hóa và lịch sử riêng biệt. Trong khi đó, tôn giáo Việt Nam cũng đa dạng với nhiều hệ phái khác nhau, từ tôn giáo truyền thống đến các tôn giáo mới. Việc nghiên cứu và giải quyết các vấn đề liên quan đến dân tộctôn giáo không chỉ giúp củng cố khối đại đoàn kết dân tộc mà còn góp phần vào quá trình xây dựng xã hội Việt Nam hiện đại. Theo đó, các chính sách của Đảng và Nhà nước cần phải được điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu phát triển của các dân tộc thiểu số và tôn giáo, tạo điều kiện thuận lợi cho sự hòa hợp và phát triển bền vững.

1.1. Đặc điểm dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với nhiều dân tộc thiểu số sinh sống ở các vùng miền khác nhau. Mỗi dân tộc có những phong tục, tập quán, ngôn ngữ và giá trị văn hóa riêng, tạo nên sự phong phú cho nền văn hóa Việt Nam. Tôn giáo cũng đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân, với các tôn giáo lớn như Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, và nhiều tôn giáo dân gian khác. Mối quan hệ giữa dân tộctôn giáo ở Việt Nam không chỉ đơn thuần là sự phân chia mà còn là sự giao thoa, tương tác, tạo nên những nét đặc trưng văn hóa độc đáo. Điều này thể hiện qua các lễ hội, phong tục tập quán, và những giá trị văn hóa mà các dân tộctôn giáo cùng nhau gìn giữ và phát triển.

1.2. Tác động của chuyển đổi lên chủ nghĩa xã hội đến dân tộc và tôn giáo

Quá trình chuyển đổi lên chủ nghĩa xã hội đã tác động sâu sắc đến đời sống của các dân tộc thiểu số và các tôn giáo ở Việt Nam. Các chính sách phát triển kinh tế xã hội đã tạo ra nhiều cơ hội cho các dân tộc và tôn giáo, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và tôn giáo. Việc hiện đại hóa và đô thị hóa nhanh chóng đã dẫn đến sự thay đổi trong cách thức sinh hoạt, lối sống và giá trị của các cộng đồng. Điều này yêu cầu chính sách phải linh hoạt và nhạy bén hơn trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tôn giáodân tộc, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và hòa hợp giữa các cộng đồng trong xã hội.

II. Chính sách dân tộc và tôn giáo trong thời kỳ đổi mới

Chính sách dân tộc và tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có những điều chỉnh quan trọng trong thời kỳ đổi mới. Mục tiêu chính của các chính sách này là đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các dân tộc thiểu số và các tôn giáo, đồng thời khuyến khích sự phát triển kinh tế xã hội ở các vùng sâu, vùng xa. Đặc biệt, chính sách đồng bào dân tộc đã được triển khai mạnh mẽ, nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho các cộng đồng. Việc xây dựng các mô hình phát triển kinh tế xã hội phù hợp với đặc điểm của từng dân tộctôn giáo đã góp phần tăng cường sự gắn kết giữa các cộng đồng, tạo ra môi trường hòa bình và ổn định.

2.1. Đánh giá thực trạng chính sách dân tộc

Thực trạng chính sách dân tộc hiện nay cho thấy nhiều tiến bộ trong việc nâng cao đời sống của các dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những bất cập trong việc thực hiện các chính sách này, như sự phân bổ không đồng đều nguồn lực và thiếu sự tham gia của các cộng đồng trong quá trình ra quyết định. Để khắc phục tình trạng này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và các tổ chức xã hội trong việc thực hiện chính sách, nhằm đảm bảo quyền lợi và sự phát triển bền vững cho các dân tộc.

2.2. Đánh giá thực trạng chính sách tôn giáo

Chính sách tôn giáo ở Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc bảo đảm tự do tín ngưỡng và tôn giáo cho mọi công dân. Tuy nhiên, vẫn còn những thách thức trong việc quản lý và điều hành các hoạt động tôn giáo, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự gia tăng của các tôn giáo mới. Cần có các biện pháp phù hợp để quản lý các hoạt động tôn giáo một cách hiệu quả, đồng thời bảo vệ quyền lợi của các tín đồ, tránh tình trạng xung đột và phân biệt đối xử giữa các tôn giáo.

III. Hướng tới tương lai Giải pháp và khuyến nghị

Để phát triển bền vững mối quan hệ giữa dân tộctôn giáo trong bối cảnh chuyển đổi lên chủ nghĩa xã hội, cần thiết phải có các giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần tăng cường giáo dục và tuyên truyền về đa dạng văn hóa và tôn giáo, nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của sự hòa hợp và đoàn kết. Thứ hai, các chính sách phát triển kinh tế xã hội cần được điều chỉnh để phù hợp với đặc điểm của từng dân tộctôn giáo, từ đó tạo ra cơ hội phát triển cho tất cả các cộng đồng. Cuối cùng, cần có sự tham gia tích cực của các tổ chức xã hội và cộng đồng trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách liên quan đến dân tộctôn giáo, nhằm đảm bảo quyền lợi và sự phát triển bền vững cho tất cả các cộng đồng trong xã hội.

3.1. Các giải pháp cụ thể

Các giải pháp cụ thể bao gồm việc xây dựng các chương trình phát triển kinh tế xã hội phù hợp với từng dân tộc, tạo điều kiện cho họ tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội. Đồng thời, cần có các chương trình đào tạo nghề và hỗ trợ khởi nghiệp cho các dân tộc thiểu số, nhằm nâng cao năng lực và khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường. Việc phát triển hạ tầng cơ sở cũng cần được chú trọng, nhằm kết nối các vùng sâu, vùng xa với các trung tâm kinh tế và văn hóa.

3.2. Khuyến nghị cho chính sách

Khuyến nghị cho chính sách bao gồm việc cải thiện sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện chính sách dân tộc và tôn giáo. Cần có các cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả của các chính sách này, từ đó điều chỉnh kịp thời để đáp ứng nhu cầu của các cộng đồng. Bên cạnh đó, cần khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội và cộng đồng trong việc xây dựng chính sách, nhằm đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của các giải pháp đề ra.

11/01/2025
Báo cáo tổng kết tài liệu tham khảo vấn đề dân tộc và tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. Hai cách tiếp cận khái niệm dân tộc Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, dân tộc là quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người, trải qua các hình thức cộng đồng từ thấp đến cao, bao gồm: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc. Sự biến đổi của phương thức sản xuất chính là nguyên nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng dân tộc. Ở phương Tây, dân tộc xuất hiện khi phương thức sản xuất TBCN được xác lập thay thế phương thức sản xuất phong kiến.

Ở phương Đông, dân tộc được hình thành trên cơ sở một nền văn hoá, một tâm lý dân tộc đã phát triển tương đối chín muồi và một cộng đồng kinh tế tuy đã đạt tới một mức độ nhất định song nhìn chung còn kém phát triển và ở trạng thái phân tán. Cho đến nay, dân tộc được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, dân tộc (nation) là khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thồ riêng, nền kinh tế thống nhất, có ngôn ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Với nghĩa này, khái niệm dân tộc dùng để chỉ một quốc gia, nghĩa là toàn bộ nhân dân của một nước. Ví dụ, dân tộc Ấn Độ, dân tộc Trung Hoa, dân tộc Việt Nam.

Theo nghĩa rộng, dân tộc có một số đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, có chung một vùng lãnh thổ ổn định. Lãnh thổ là dấu hiệu xác định không gian sinh tồn, vị trí địa lý của một dân tộc, biểu thị vùng đất, vùng trời, vùng biển mà mỗi dân tộc được quyền sở hữu. Lãnh thổ là yếu tố thể hiện chủ quyền của một dân tộc trong tương quan với các quốc gia dân tộc khác. Trên không gian đó, các cộng đồng tộc người có mối quan hệ gắn bó với nhau, cư 10 trú đan xen với nhau.

Vận mệnh của cộng đồng tộc người gắn bó với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ quốc gia. Đối với quốc gia và từng thành viên dân tộc, yếu tố lãnh thổ là thiêng liêng nhất. Không có lãnh thổ thì không có khái niệm Tổ quốc, quốc gia. Bảo vệ chủ quyền quốc gia là nghĩa vụ và trách nhiệm cao nhất của mỗi thành viên dân tộc.

Chủ quyền quốc gia dân tộc về lãnh thổ là một khái niệm xác định thường được thể chế hóa thành luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, quá trình di cư khiến không ít cư dân của một quốc gia lại cư trú ở nhiều quốc gia, châu lục khác. Vậy nên, khái niệm dân tộc, lãnh thổ, hay đường biên giới không chỉ bó hẹp trong biên giới hữu hình, mà đã được mở rộng thành đường biên giới “mềm”, ở đó dấu ấn văn hóa lại chính là yếu tố mạnh nhất để phân định ranh giới giữa các quốc gia dân tộc Thứ hai, có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế. Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc, là cơ sở để gắn kết các bộ phận, các thành viên trong dân tộc, tạo nên tính thống nhất, ổn định, bền vững của dân tộc.

Mối quan hệ kinh tế là nền tảng cho sự vững chắc của cộng đồng dân tộc. Nếu thiếu tính cộng đồng chặt chẽ, bền vững về kinh tế thì cộng đồng người chưa thể trở thành dân tộc. Thứ ba, có chung một ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp. Mỗi một dân tộc có ngôn ngữ riêng, bao gồm cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, làm công cụ giao tiếp giữa các thành viên trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và tình cảm.

Trong một quốc gia có nhiều cộng đồng tộc người, với các ngôn ngữ khác nhau, nhưng bao giờ cũng sẽ có một ngôn ngữ chung, thống nhất. Tính thống nhất trong ngôn ngữ dân tộc được thể hiện trước hết ở sự thống nhất về cấu trúc ngữ pháp và kho từ vựng cơ bản. Ngôn ngữ dân tộc là một ngôn ngữ đã phát triển và sự thống nhất về ngôn ngữ là một trong những đặc trưng chủ yếu của dân tộc. Thứ tư, có chung một nền văn hóa và tâm lý.

Văn hóa dân tộc được biểu hiện thông qua tâm lý, tính cách, phong tục, tập quán, lối sống dân tộc, tạo nên bản sắc riêng của từng dân tộc. Văn hoá dân tộc gắn bó chặt chẽ với văn hóa của các cộng đồng tộc người trong một quốc gia. Văn hóa là một yếu tố đặc biệt quan trọng của sự liên kết cộng đồng. Mỗi dân tộc có một nền văn hóa độc đáo của dân tộc mình.

Trong sinh hoạt cộng đồng, các thành viên của dân tộc thuộc những thành phần xã hội khác nhau tham gia vào sự sáng tạo giá trị văn hoá chung của dân tộc, đồng thời hấp thụ các giá trị văn hóa chung đó. Cá nhân hoặc nhóm người nào từ chối những giá trị văn hóa dân tộc thì họ đã tự mình tách khỏi cộng đồng dân tộc. Văn hóa của một dân tộc không thể phát triển nếu không giao lưu với văn hóa của các dân tộc khác. Tuy nhiên, trong giao lưu văn hóa, các dân tộc luôn có ý thức bảo tồn và phát triển bản sắc của mình, tránh nguy cơ đồng hóa về văn hoá.

Thứ năm, có chung một Nhà nước (Nhà nước dân tộc). 11 Các thành viên cũng như các cộng đồng tộc người trong một dân tộc đều chịu sự quản lý, điều khiển của một Nhà nước độc lập. Đây là yếu tố phân biệt dân tộc-quốc gia và dân tộc-tộc người. Dân tộc-tộc người trong một quốc gia không có nhà nước với thể chế chính trị riêng.

Hình thức tổ chức, tính chất của Nhà nước do chế độ chính trị của dân tộc quyết định. Nhà nước là đặc trưng cho thể chế chính trị của dân tộc, là đại diện cho dân tộc trong quan hệ với các quốc gia dân tộc khác trên thế giới. Các đặc trưng cơ bản nói trên gắn bó chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể, đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định. Các đặc trưng ấy có quan hệ nhân quả, tác động qua lại, kết hợp với nhau một cách chặt chẽ và độc đáo trong lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc, tạo nên tính ổn định, bền vững của cộng đồng dân tộc.

Theo nghĩa hẹp, dân tộc (ethnie) là khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng tộc người được hình thành trong lịch sử, có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung ý thức tự giác tộc người, ngôn ngữ và văn hóa. Cộng đồng này xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc, kế thừa và phát triển cao hơn những nhân tố tộc người của các cộng đồng đó. Với nghĩa này, dân tộc là một bộ phận hay thành phần của quốc gia. Chẳng hạn, Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc tức 54 cộng đồng tộc người.

Sự khác nhau giữa các cộng đồng tộc người ấy biểu hiện chủ yếu ở đặc trưng văn hóa, lối sống, tâm lý, ý thức tộc người. Dân tộc - tộc người có một số đặc trưng cơ bản sau: - Cộng đồng về ngôn ngữ (bao gồm ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết; hoặc chỉ riêng ngôn ngữ nói). Đây là tiêu chí cơ bản để phân biệt các tộc người khác nhau và là vấn đề luôn được các dân tộc coi trọng giữ gìn. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển tộc người vì nhiều nguyên nhân khác nhau, có những tộc người không còn ngôn ngữ mẹ đẻ mà sử dụng ngôn ngữ khác làm công cụ giao tiếp.

- Cộng đồng về văn hóa. Văn hóa bao gồm văn hóa vật thể và phi vật thể ở mỗi tộc người phản ánh truyền thống, lối sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo của tộc người đó. Lịch sử phát triển của các tộc người gắn liền với truyền thống văn hóa của họ. Ngày nay, cùng với xu thế giao lưu văn hóa vẫn song song tồn tại xu thế bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của mỗi tộc người.

- Ý thức tự giác tộc người. Đây là tiêu chí quan trọng nhất để phân định một tộc người và có vị trí quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người. Đặc trưng nổi bật là các tộc người luôn tự ý thức về nguồn gốc, tộc danh của dân tộc mình; đó còn là ý thức tự khẳng định sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người dù cho có những tác động làm thay đổi địa bàn cư trú, lãnh thổ, hay tác động ảnh hưởng của giao lưu kinh tế, văn hóa. Sự hình thành và phát triển của ý thức tự giác tộc người liên quan trực tiếp đến các yếu tố của ý thức, tình cảm, tâm lý tộc người.

Ba tiêu chí này tạo nên sự ổn định trong mỗi tộc người trong quá trình phát triển. Đồng thời căn cứ vào ba tiêu chí này để xem xét và phân định các tộc người ở Việt Nam hiện nay. Thực chất, hai cách hiểu trên về khái niệm dân tộc, tuy không đồng nhất nhưng lại gắn bó mật thiết với nhau, không tách rời nhau. Dân tộc quốc gia bao hàm dân tộc tộc 12 người.

Dân tộc tộc người là bộ phận hình thành dân tộc quốc gia. Dân tộc tộc người ra đời trong những quốc gia nhất định và thông thường những nhân tố hình thành dân tộc tộc người không tách rời với những nhân tố hình thành quốc gia. Đấy là lý do, khi nói đến dân tộc Việt Nam thì không thể bỏ qua 54 cộng đồng tộc người, trái lại, khi nói đến 54 cộng đồng tộc người ở Việt Nam phải gắn liền với sự hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc Quan điểm của C.Ăngghen về vấn đề dân tộc được trình bày trong nhiều tác phẩm nổi tiếng của các ông, nhất là trong “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”.Ăngghen đã kêu gọi: “Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ.

Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo”1. Theo đó, việc giải quyết vấn đề dân tộc phải luôn gắn với vấn đề giai cấp và vấn đề nhân loại. Trong cuộc cách mạng của giai cấp công nhân do Đảng cộng sản lãnh đạo, lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc gắn bó mật thiết với nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài báo cáo tổng kết mang tên "Báo cáo tổng kết về dân tộc và tôn giáo trong thời kỳ chuyển đổi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" do nhóm tác giả gồm các chuyên gia từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Trường đại học ngân hàng TP. Hồ Chí Minh thực hiện, đã cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự chuyển đổi của các dân tộc và tôn giáo trong bối cảnh phát triển lên chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam. Bài viết không chỉ tổng hợp các nghiên cứu trước đó mà còn phân tích những tác động của chính sách và thực tiễn đối với đời sống tinh thần và văn hóa của các cộng đồng dân tộc và tôn giáo khác nhau.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến tôn giáo và văn hóa, bạn có thể tham khảo bài luận văn Nghiên Cứu Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Qua Các Đền Ở Hà Nội Hiện Nay, nơi nghiên cứu sâu về tín ngưỡng thờ Mẫu, một phần quan trọng trong văn hóa tâm linh Việt Nam. Ngoài ra, bài viết Nghiên Cứu Thực Hành Văn Hóa Công Giáo Của Giáo Dân Tại Giáo Xứ Tụy Hiền Sau Thư Chung 1980 cũng sẽ mang lại cái nhìn phong phú về thực hành tôn giáo trong bối cảnh hiện đại. Cuối cùng, bài Luận văn đối với đời sống tín ngưỡng người Hmông sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của các tôn giáo đến đời sống tâm linh của cộng đồng dân tộc thiểu số tại Việt Nam.

Những tài liệu này không chỉ làm phong phú thêm kiến thức mà còn mở ra nhiều góc nhìn khác nhau về mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa trong xã hội Việt Nam hiện nay.