Chương 1. Tổng quan lý thuyết Chương 2. Phương pháp thực nghiệm Chương 3. Kết quả và thảo luận Kết luận và kiến nghị.
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. Giới thiệu chung về vật liệu xúc tác quang 1. Khái niệm xúc tác quang Trong hóa học, khái niệm xúc tác quang dùng để nói đến những phản ứng xảy ra dưới tác dụng đồng thời của chất xúc tác và ánh sáng. Hay nói cách khác, ánh sáng chính là nhân tố kích hoạt chất xúc tác giúp cho phản ứng xảy ra.
Khi có sự kích thích của ánh sáng, trong chất bán dẫn sẽ tạo ra cặp electron quang sinh và lỗ trống quang sinh và có sự trao đổi electron quang sinh giữa các chất bị hấp phụ, thông qua cầu nối là chất bán dẫn. Xúc tác quang là một trong những quá trình oxi hóa nhờ tác nhân ánh sáng, trong khoảng hơn hai mươi năm trở lại đây ngày càng được ứng dụng rộng rãi và đặc biệt quan trọng trong xử lý môi trường. Nguyên lý chung của quang xúc tác Nguyên lý của quang xúc tác có thể tóm tắt như sau: -Vật liệu bán dẫn: Xúc tác quang dựa vào vật liệu bán dẫn, điển hình là các oxide kim loại, chẳng hạn như titanium dioxide (TiO2) và zinc oxide (ZnO). Theo lí thuyết vùng, cấu trúc điện tử của kim loại gồm có một vùng gồm những orbital phân tử liên kết được xếp đủ electron quang sinh, được gọi là vùng hóa trị (Valance band,VB) và một vùng gồm những orbital phân tử phản liên kết còn trống electron quang sinh, được gọi là vùng dẫn (Conduction band, CB).
Hai vùng này được chia cách nhau bởi một hố năng lượng được gọi là vùng cấm, đặc trưng bởi năng lượng vùng cấm Eg (Bandgap energy) chính là độ chênh lệch giữa hai vùng nói trên. Sự khác nhau giữa vật liệu dẫn điện, cách điện và bán dẫn chính là sự khác nhau về vị trí và năng lượng vùng cấm. Vật liệu bán dẫn là vật liệu có tính chất trung gian giữa vật liệu dẫn điện và vật liệu cách điện, khi có một kích thích đủ lớn (lớn hơn năng lượng vùng cấm Eg), các electron quang sinh trong vùng hóa trị của vật liệu bán dẫn có thể vượt qua vùng cấm nhảy lên vùng dẫn, trở 6 thành chất dẫn điện có điều kiện. Nói chung những chất có Eg lớn hơn 3,5 eV là chất cách điện ngược lại những chất có Eg thấp hơn 3,5 eV là chất bán dẫn.
-Hấp thụ ánh sáng: Những chất bán dẫn có Eg thấp hơn 3,5 eV đều có thể làm chất xúc tác quang vì khi được kích thích bởi các photon ánh sáng có năng lượng lớn hơn năng lượng vùng cấm Eg, các electron quang sinh hóa trị của chất bán dẫn sẽ nhảy lên vùng dẫn. Kết quả là trên vùng dẫn sẽ có các electron quang sinh mang điện tích âm, được gọi là electron quang sinh quang sinh (photogenerated electron quang sinh, e-CB) và trên vùng hóa trị sẽ có các lỗ trống quang sinhmang điện tích dương, được gọi là lỗ trống quang sinhquang sinh (photogenerated hole, h+VB). -Phản ứng oxi hóa khử: Các electron quang sinh quang sinh và lỗ trống quang sinhquang sinh được tạo ra trong chất xúc tác bán dẫn có thể tham gia vào các phản ứng hóa học khác nhau. Các electron quang sinh trong vùng dẫn có thể khử một số hợp chất nhất định, trong khi các lỗ trống quang sinhtrong vùng hóa trị có thể oxi hóa các hợp chất khác.
Các electron quang sinh quang sinh và lỗ trống quang sinhquang sinh có khả năng phản ứng cao hơn so với các tác nhân oxi hóa-khử đã biết trong hóa học. Những phản ứng oxi hóa khử này là cơ sở cho các quá trình quang xúc tác (Hình 1. - Khả năng phản ứng bề mặt: Quá trình quang xúc tác xảy ra trên bề mặt vật liệu xúc tác. Diện tích bề mặt cao của chất xúc tác quang cho phép xảy ra nhiều phản ứng hơn, làm tăng hiệu quả của quá trình.
- Sự phân tách electron quang sinh quang sinh và lỗ trống quang sinhquang sinh: Quá trình quang xúc tác hiệu quả đòi hỏi phải tách và di chuyển các electron quang sinh và lỗ trống quang sinhquang sinh trước khi chúng kết hợp lại. Sự phân tách này đạt được bằng cách thiết kế cấu trúc xúc tác và tối ưu hóa các điều kiện phản ứng. - Hấp phụ chất phản ứng: Trong quá trình quang xúc tác, các phân tử chất phản ứng hấp phụ trên bề mặt chất xúc tác, tạo điều kiện thuận lợi cho 7 phản ứng của chúng với các electron quang sinh quang sinh và lỗ trống quang sinhquang sinh. - Các ứng dụng môi trƣờng: Xúc tác quang có nhiều ứng dụng khác nhau, bao gồm lọc nước, lọc không khí, sản xuất nhiên liệu mặt trời và phân hủy chất ô nhiễm hữu cơ.
Xúc tác quang đã thu hút được sự chú ý nhờ tiềm năng giải quyết các thách thức môi trường. Những nguyên tắc này tạo tiền đề cho việc thiết kế các hệ thống xúc tác quang, cho phép các nhà nghiên cứu phát triển các chất xúc tác chọn lọc và hiệu quả hơn cho các ứng dụng cụ thể. Quá trình oxi hóa hợp chất hữu cơ trên vật liệu xúc tác quang [44] 1.3 Tổng quan về tình hình nghiên cứu của vật liệu xúc tác quang Trong những năm gần đây, các vật liệu bán dẫn làm xúc tác quang đã được nghiên cứu rộng rãi trong lĩnh vực xử lý ô nhiễm môi trường và tạo nguồn năng lượng sạch, tái sinh từ việc tách nước tinh khiết thành H2 và O2 [15]. Trong số đó, TiO2 và các oxide kim loại chuyển tiếp có cấu hình electron quang sinh d 0 và oxide kim loại điển hình có cấu hình electron quang sinh d10 được nghiên cứu sâu nhất.
Một số chất bán dẫn được sử dụng làm chất xúc tác quang trong đó ZnO, TiO 2, Zn2TiO2, CdS, WO3, các muối tungstate là các chất cho hiệu suất cao. Xây dựng dựa trên các cách tiếp cận cơ bản để cải thiện hoạt động ánh 8 sáng nhìn thấy của chất xúc tác quang dựa trên TiO2, mục đích cung cấp cái nhìn sâu sắc về nhiều phát triển hiện đại trong lĩnh vực xúc tác quang hoạt động bằng ánh sáng nhìn thấy. Các ví dụ khác nhau về vật liệu tổng hợp TiO2 tiên tiến đã được thảo luận liên quan đến khả năng hiển thị của chúng, hiệu suất chuyển đổi quang điện tử cảm ứng ánh sáng, động lực học của electron quang sinh - lỗ trống quang sinh và phân hủy hữu cơ và vô cơ các chất ô nhiễm, cho thấy nhu cầu quan trọng để phát triển hơn nữa các loại vật liệu này cho các mục đích chuyển đổi năng lượng và xử lý môi trường. Các phương pháp truyền thống đối với vật liệu hoạt động bằng ánh sáng nhìn thấy được liên quan đến việc điều chỉnh các chất bán dẫn có khe hở rộng như TiO2 và ZnO thông qua pha tạp, hợp kim, hình thành tiếp giáp hoặc nhạy cảm để đưa dải thông vào vùng khả kiến với các mức độ thành công khác nhau [16].
TiO2 [15] ở dạng bình thường, là chất bột màu trắng, rất bền, không độc, rẻ tiền. TiO2 có thể tồn tại ở một trong ba dạng tinh thể: rutile, anatase và brookite. TiO2 dạng rutile đã được sử dụng hàng trăm năm nay trong vật liệu xây dựng, làm chất độn màu (pigment) cho sơn, trong công nghệ hóa chất, dược phẩm, mỹ phẩm… TiO2 cấu trúc anatase có hoạt tính quang xúc tác nên gần đây đã được tập trung nghiên cứu như một trong những giải pháp có triển vọng nhất để xử lý các chất độc hại phân tán trong môi trường. Đặc biệt là diệt vi khuẩn, nấm mốc trong phòng bệnh, nhà ở, khử mùi hôi trong văn phòng, phân hủy các khí NOx, SOx, VOCs,… trong môi trường không khí.
Nguyên lí cơ bản của quá trình xử lý môi trường, diệt khuẩn,… khi dùng TiO2 dưới tác dụng của tia cực tím (UV) làm sinh các điện tử và lố trống, các điện tử và lỗ trống quang sinhnày chạy lên bề mặt hạt nano, và chúng thực hiện các phản ứng oxi hóa – khử, có thể tiêu diệt vi khuẩn, hoặc kết hợp với một số khí độc tạo ra sản phẩm không độc hại (như khí CO2 và H2O). Việc ứng dụng hiệu ứng quang xúc tác của nano TiO2, nanocomposite 9 TiO2 (tổ hợp của nano TiO2 và apatite tạo ra vật liệu nanocomposite TiO2) để phân hủy các chất ô nhiễm trong không khí được coi là một trong các giải pháp kỹ thuật quan trọng giúp làm cho môi trường sạch hơn. Phương pháp này có ưu điểm hơn so với phương pháp lọc bằng chất hấp phụ truyền thống; chi phí đầu tư và vận hành thấp (chỉ cần ánh sáng mặt trời, oxygen và độ ẩm không khí); quá trình oxi hóa được thực hiện trong điều kiện nhiệt độ và áp suất bình thường; hầu hết các chất độc hữu cơ đều có thể bị oxi hóa thành sản phẩm cuối cùng là CO2 và H2O. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu vật liệu nano TiO2 cấu trúc anatase và ứng dụng chúng để xử lý môi trường đã được nhiều nhà khoa học quan tâm từ những năm 1990 [15].
Kết quả cho thấy khả năng xử lý diệt khuẩn của vật liệu quang xúc tác TiO2 anatase, như một số dạng sản phẩm màng lọc dùng để xử lý môi trường sử dụng TiO2 trên đế vải carbon, trên đế gốm sứ, bông thủy tinh và nhất là hai loại máy xử lý không khí ô nhiễm ở dạng chế tạo thử nghiệm đơn chiếc cũng đã được đưa ra quảng bá trong hội chợ công nghệ. Nhiều chất xúc tác quang khác Ni và NiO, chẳng hạn như K4Nb6O17, K2La2Ti3O10 và NaTaO3 đã được sử dụng để phân hủy H2O thành H2 và O2 dưới sự chiếu xạ tia cực tím. RuO2 cũng đã được xem xét như là một đồng xúc tác để tách nước. RuO2 được biết đến như một chất xúc tác cho quá trình oxi hóa giải phóng khí O2.
Trong trường hợp tách nước, RuO2 đã được chứng minh bởi nhiều nhà nghiên cứu có hiệu quả như một chất xúc tác điển hình cho quá trình oxi hóa giải phóng khí O2. Tuy nhiên, Amouyal và cộng sự cho rằng RuO2 tăng cường sự tạo thành H2 trong sự hiện diện Ru(bipy)32+, MV2+ và EDTA. Sakata và cộng sự công bố rằng tỷ lệ H2 giải phóng do quá trình khử H+ thành H2 khi sử dụng quang xúc tác RuO 2/TiO2 với sự hiện diện của ethanol là cao hơn 30 lần so với việc chỉ sử dụng TiO2. RuO2 được mang trên các chất bán dẫn như TiO2 và CdS sẽ hoạt động như một chất xúc tác cho quá trình khử làm 10 thúc đẩy sự tạo thành H2.