ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO quy định, tuổi vị thành niên (VTN) là lứa tuổi bắt đầu từ 10-19 tuổi và được chia làm 2 giai đoạn, trong đó trẻ từ 11-14 tuổi được coi là giai đoạn VTN sớm. Ở giai đoạn này, trẻ bắt đầu có những thay đổi về mặt thể chất đi kèm với những thay đổi về quan niệm của bản thân (1). Chế độ can thiệp dinh dưỡng trong giai đọan trẻ VTN hết sức quan trọng, vì thời kỳ này đóng góp đến 50% cân nặng, hơn 20% chiều cao và 50% khối lượng xương của trẻ khi so với tuổi trưởng thành (World Health Organization, 1995) (2), hoàn thiện khả năng sinh sản và giai đoạn phát triển nhanh chóng của não bộ (3). Suy dinh dưỡng là tình trạng thiếu hụt các chất dinh dưỡng cần thiết làm ảnh hưởng đến quá trình sống, hoạt động và tăng trưởng bình thường của cơ thể, suy dinh dưỡng trong độ tuổi vị thành niên, tùy theo mức độ, có thể gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực cho trẻ bị mắc phải.
Theo nhiều nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam cho thấy những nữ VTN thấp còi có nguy cơ phát triển thành những phụ nữ thấp bé nhẹ cân và hậu quả là sinh ra những trẻ bị suy dinh dưỡng (SDD) bào thai (có cân nặng sơ sinh dưới 2. Những trẻ này khi lớn lên lại có nguy cơ trở thành những bà mẹ suy dinh dưỡng từ đó tạo thành một vòng lặp suy dinh dưỡng kéo dài qua nhiều thế hệ sau. Suy dinh dưỡng ở giai đoạn này ảnh hưởng đến hầu hết các chỉ số tăng trưởng và kích thước cơ thể khi trưởng thành. Theo WHO, suy dinh dưỡng tuổi vị thành niên là yếu tố nguy cơ quan trọng ảnh hưởng đến tỷ lệ bệnh tật và tử vong của trẻ em trên toàn thế giới, ảnh hưởng đến tất cả các cơ quan của cơ thể, làm ngừng tăng trưởng và phát triển, làm hỏng các chức năng miễn dịch dẫn đến khả năng gia tăng khuynh hướng mắc các bệnh mãn tính và nhiễm trùng cấp tính (4).
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng các yếu tố nhân khẩu học (nghề nghiệp, trình độ học vấn của cha mẹ, quy mô gia đình. Bên cạnh đó, các kiến thức về dinh dưỡng từ nhà trưỡng cũng ảnh hưởng đến thói quen ăn uống của học sinh. Phú Thứ là một phường vừa được công nhận văn minh đô thị năm 2020, thuộc quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ – trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển nhất 2 ở Đồng bằng sông Cửu Long. Theo báo cáo dinh dưỡng của Trạm y tế, năm 2019, tỷ lệ suy dinh dưỡng chung của trường là 15,8%, cao hơn so với mặt bằng chung của cả nước là 14,8% (theo báo cáo của Bộ Y tế cùng năm), vậy thì sau 02 năm phấn đấu và phát triển, đời sống kinh tế đã được cải thiện và trở thành phường văn minh đô thị thì liệu rằng tỷ lệ suy dinh dưỡng của học sinh tại trường trung học cơ sở có được cải thiện theo hay không và đâu là những yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng này? Để trả lời các câu hỏi trên thì đề tài “Tình trạng suy dinh dƣỡng của học sinh 11-14 tuổi ở trƣờng trung học cơ sở Phú Thứ, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ năm 2021 và một số yếu tố liên quan” được thực hiện.
Do hạn chế về thời gian nên nghiên cứu này còn chưa bao quát được tất cả trẻ trong độ tuổi nghiên cứu ở địa bàn mà chỉ tập trung vào một trường trung học cơ sở duy nhất của phường Phú Thứ. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả tình trạng suy dinh dưỡng của học sinh 11 -14 tuổi tại trường trung học cơ sở Phú Thứ phường Phú Thứ, quận Cái Răng, Thành phố Cần Thơ, năm 2021 dựa vào chỉ số Zscore BMI theo tuổi và giới. Phân tích yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng của học sinh 11 -14 tuổi tại trường THCS Phú Thứ, phường Phú Thứ, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ năm 2021.
4 CHƢƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá tình trạng dinh dƣỡng trẻ vị thành niên (TVN). Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng (TTDD) Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các điểm chức phận, cấu trúc và hóa sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu của cơ thể (9-11). Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể.
Số lượng và chủng loại thực phẩm cần để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con người khác nhau tùy theo tuổi, giới, tình trạng sinh lý (ví dụ: thời kỳ có thai, cho con bú.) và mức độ hoạt động thể lực và trí lực. Cơ thể sử dụng các chất dinh dưỡng có trong thực phẩm không những phải trải qua quá trình tiêu hoá, hấp thu, mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như sinh hoá và sinh lý trong quá trình chuyển hoá. Việc sử dụng thực phẩm chủ yếu phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của cá thể. Ví dụ: tiêu chảy ảnh hưởng tức thì đến tiêu hoá hấp thu thức ăn.
Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ảnh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ, khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt, (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc dinh dưỡng hoặc cả hai. Khái niệm về suy dinh dưỡng (SDD) Suy dinh dưỡng là thuật ngữ để chỉ tình trạng thiếu hụt các chất dinh dưỡng cần thiết. Các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể con người bao gồm carbonhydrates, protein, chất béo (để cung cấp năng lượng, các amino acid và các acid béo), các loại vitamin và khoáng chất. Các vitamin và khoáng chất được xếp vào loại chất dinh dưỡng vi lượng vì cơ thể chỉ cần một lượng rất nhỏ mỗi ngày (khoảng dưới 100 mg) (12).
Có nhiều cách khác nhau biểu hiện tình trạng mất cân bằng dinh dưỡng. Thứ nhất là do cơ thể không hấp thụ được đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết. Suy dinh dưỡng protein- năng lượng là thuật ngữ được sử dụng để chỉ tình trạng đáp ứng không đầy đủ cả protein và năng lượng. Thứ hai, nếu cơ thể không được đáp ứng hoặc do hấp thụ kém (bởi yếu to di truyền hoặc yếu tố môi trường, bệnh tật) (13).
Vị thành niên Theo WHO, vị thành niên là giai đoạn của cuộc đời giữa thời thơ ấu và tuổi trưởng thành, từ 10 đến 19 tuổi. Đây là một giai đoạn phát triển đặc biệt của con người và là thời điểm quan trọng để đặt nền móng cho một sức khỏe tốt. Ở giai đoạn này, thanh thiếu niên trải qua sự phát triển nhanh chóng về thể chất, nhận thức và tâm lý xã hội. Điều này ảnh hưởng đến cảm xúc, suy nghĩ, đưa ra quyết định và tương tác với thế giới xung quanh.
Tuổi vị thành niên được chia thành 2 giai đoạn trước (từ 10 -14 tuổi) và sau (15-19 tuổi). Theo UNICEF, ở giai đoạn vị thành niên trước, trẻ bắt đầu xuất hiện những thay đổi về thể chất, bắt đầu bằng sự gia tăng nhanh chóng về chiều cao và cân nặng, tiếp theo đó là sự phát triển của cơ quan sinh dục và các đặc điểm sinh dục thứ cấp. Trong giai đoạn này, thanh thiếu niên thiết lập các kiểu hành vi liên quan đến chế độ ăn uống, hoạt động thể chất, sử dụng chất kích thích và hoạt động tình dục. Những hành vi này vừa có thể giúp cho việc bảo vệ sức khỏe của chính trẻ và những người xung quanh, vừa có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến trẻ trong hiện tại và tương lai.
Để xây dựng và phát triển sức khỏe tốt, thanh thiếu niên ở độ tuổi này cần nhiều thông tin về giáo dục giới tính phù hợp với lứa tuổi, kỹ năng sống và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế công. Phương pháp và tiêu chuẩn đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ vị thành niên (11-14 tuổi) 1. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng phương pháp nhân trắc học Nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích đo các biến đổi về kích thước và cấu trúc cơ thể theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng. Phương pháp nhân trắc học có những ưu điểm là đơn giản, an toàn và có thể điều tra trên một mẫu lớn.
Trang thiết bị không đắt, dễ vận chuyển. Có thể khai thác đánh giá được các dấu hiệu về tình trạng dinh dưỡng trong quá khứ và xác định được mức độ suy dinh dưỡng. Tuy nhiên phương pháp nhân trắc học cũng có một vài nhược điểm như: không đánh giá được sự thay đổi về tình trạng dinh dưỡng trong giai đoạn ngắn hoặc không nhạy để xác định các thiếu hụt dinh dưỡng đặc hiệu. Quá trình lớn là kết quả tổng hợp của các yếu tố di truyền và ngoại cảm, trong đó các yếu tố dinh dưỡng có vai trò rất quan trọng.
Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy yếu tố dinh dưỡng hầu như giữ vai trò chi phối chính trong sự phát 6 triển của trẻ em, ít nhất đến 5 tuổi. Vì vậy, thu thập các kích thước nhân trắc là bộ phận quan trọng trong các cuộc điều tra dinh dưỡng (14-16). Có thể chia ra nhóm kích thước nhân trắc sau đây: - Khối lượng cơ thể, biểu hiện bằng cân nặng - Các kích thước về độ dài, đặc hiệu là chiều cao. - Cấu trúc cơ thể và các dự trữ về năng lượng và protein, thông qua các mô mềm bề mặt: Lớp mỡ dưới da và cơ.
Một số kích thước sau đây thường được dùng trong các cuộc điều tra dinh dưỡng tại thực địa cho trẻ vị thành niên từ 11-14 tuổi Tuổi Kích thước 11-14 - Cân nặng - Chiều cao - Nếp gấp da cơ tam đầu, dưới xương bả vai - Phần trăm mỡ của cơ thể 1. Tiêu chuẩn đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ VTN Dựa vào các chỉ tiêu nhân trắc để nhận định tình trạng dinh dưỡng ở trẻ vị thành niên từ 11 đến 19 tuổi (WHO, 1995) có thể sử dụng chiều cao riêng rẽ để đánh giá chậm phát triển chiều cao (stunting) như trẻ em và có thể phối hợp giữa cân nặng với chiều cao (BMI) như người trưởng thành và các kích thước khác. Chỉ số khối cơ thể (BMI) là trọng lượng của một người tính bằng kilôgam chia cho bình phương chiều cao tính bằng mét. Đây là một phương pháp rẻ tiền và dễ thực hiện để kiểm tra các loại cân nặng có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe.
Đối với trẻ em và thanh thiếu niên, BMI phân biệt theo tuổi và giới tính và thường được gọi là BMI theo tuổi.