CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU Do đó mục tiêu của bài luận này nhằm đề xuất phương pháp giải quyết bài toán điện trường đường dây truyền tải điện cao áp một chiều sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn (Finite Element Method).2 Mục đích nghiên cứu Mục đích sau khi thực hiện xong luận văn có thể: - Nắm vững cơ sở lý thuyết điện trường đường dây truyền tải HVDC. - Nắm vững phương pháp phần tử hữu hạn trong giải các bài toán kỹ thuật. Đặc biệt là vận dụng phân tích điện trường đường dây HVDC cả đơn cực (Monopolar line) và lưỡng cực (Bipolar line). - Sử dụng các công cụ mô phỏng (Matlab, comsol, Ansys, …) để mô phỏng điện trường.5 GIỚI THIỆU VỀ HỆ THỐNG TRUYỀN TẢI ĐIỆN CAO ÁP MỘT CHIỀU Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ biến đổi điện cao áp và một số công cụ khác việc ứng dung công nghệ truyền tải điện cao áp một chiều (HVDC) trở nên phổ biến.
Thuận lợi của truyền tải HVDC so với AC là bao gồm tổn thất thấp với khoảng cách xa, công suất truyền tải lớn có thể sử dụng đất như đường trở về vì thế mỗi dây dẫn được vận hành một cách độc lập, không có hiệu ứng bề mặt, hệ số công suất không đổi trên toàn đường dây. Do đó không cần bù công suất phản kháng, loại bỏ của hệ thống đồng bộ và các vấn đề ổn định, có thể liên kết các hệ thống AC có tần số khác nhau. Tuy nhiên vấn đề ở truyền tải HVDC là sự phát vầng quang từ đường dây bao gồm: tổn thất công suất, gây nhiễu sóng radio, … AC AC Đường trở về Hình 1.1: mô hình đường dây monopolar 19 CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU AC + AC - Hình 1.2: mô hình đường dây bipolar AC AC Hình 1.3: mô hình đường dây Homopolar Hệ thống truyền tải HVDC bao gồm 3 loại chủ yếu sau: Đường dây đơn cực (Monopolar line): đường dây bao gồm một dây dẫn mang điện tích dương hoặc âm truyền công suất từ đầu phát đến đầu nhận. Trong hệ thống này, đất hay nước được dùng như đường trở về (Hình 1.
Đường dây lưỡng cực (Bipolar line): hệ thống gồm hai dây dẫn mang điện tích dương và điện tích âm. Mỗi đầu đều có bộ biến đổi điện áp định mức bằng nhau mắc nối tiếp về phía một chiều. Nếu trung tính là đất thì hai dây dẫn vận hành độc 20 CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU lập. Bình thường hai dây vận hành với dòng đi ện bằng nhau nên dòng xuống đất là bằng không.
Trong hệ thống này nếu 1 dây gặp sự cố thì dây còn lại có thể mang ½ tải. Do đó hệ thống Bipolar vận hành ổn định hơn Monopolar nhưng chi phí lắp đạt cao hơn. Homopolar line: hệ thống bao gồm 2 hoặc nhiều hơn 2 dây dẫn. Các dây dẫn vận hành cùng điện cực và luôn luôn sử dụng đất làm đường trở về (Hình 1.3) Trong trường hợp xảy ra sự cố với một trong các dây dẫn khi đó các trạm đầu cuối vẫn được nối với các dây dẫn còn lại và đảm bảo công suất truyền tải được liên tục.
Trong thực tế, dạng cấu trúc đường dây truyền tải này rất ít được sử dụng vì chi phí đầu tư cao không hiệu quả về kinh tế. Việc tính toán tổn thất công suất vầng quang trên đường dây HVDC được gọi là tính toán phân bố trong không gian bao gồm điện trường và mật độ điện tích xung quanh vầng quang của đường dây. Các giá trị của điện trường và mật độ điện tích tại đất có vai trò quan trọng trong việc đánh giá tác động của đường dây truyền tải HVDC đến con người và môi trường xung quanh.6 Ý NGHĨA CỦA VIỆC PHÂN TÍCH TRƯỜNG ION HÓA (Ionized Field) Trong những năm gần đây, với sự phát triển của kỹ thuật truyền tải điện một chiều. Các đường dây truyền tải một chiều vận hành với điện áp trên 500 kV phổ biến khắp thế giới.
Tuy nhiên, đường dây truyền tải DC vận hành trên giá trị điện áp khởi tạo vầng quang khi đó sẽ có sự xuất hiện của các ion và điện tích không gian được tạo ra xung quanh đường dây. Dưới tác động của điện trường, các điện tích không gian này chuyển hướng và lắp đầy vùng không gian xung quanh dây dẫn vì thế gây ra tổn thất công suất trên đường dây. Sự xuất hiện của các điện tích không gian làm phá vỡ cân bằng tự nhiên điện tích âm và điện tích dương trong không khí và kết quả là một vài yếu tố sinh học có thể bị tác động. Tất cả điều này đòi hỏi phải có những phân tích định lượng của trường bị ion hóa.
Trong trường hợp đường dây HVAC, do sự đổi chiều định kỳ của các phân cực của điện áp, do đó điện tích không gian được giữ giới hạn trong một khu vực nhất định gần đường dây.7 NỀN TẢNG VẬT LÝ CỦA TRƯỜNG ION HÓA Như đã đề cập ở trên, trường ion hóa có mối liên hệ với hiện tượng vầng quang. Theo “IEEE Standard of Electrical and Electric Terms” định nghĩa “vầng 21 CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU quang là sự phóng điện phát sáng nhờ vào sự ion hóa không khí xung quanh dây dẫn bởi gradient điện áp vượt quá giá trị tới hạn nhất định”. Giá trị gradient điện áp (hoặc cường độ điện trường) và giá trị điện áp tương ứng gọi là điện áp (hoặc điện trường) khởi tạo vầng quang tương ứng. Hiện tượng phóng điện vầng quang chỉ có thể xảy ra trong trường hợp điện trường không đồng nhất.
Trong hệ thống truyền tải cao áp, đường kính của dây dẫn thì rất nhỏ so với chiều cao của dây dẫn và điện trường tăng rất cao gần bề mặt dây dẫn. Từ lý thuyết về ion hóa của Townsend [6] chỉ ra rằng các eletron gần dây dẫn có thể đạt được động năng đủ lớn từ điện trường và ion hóa các phân tử không khí do va chạm. Điều này tạo thành thác điện tích bao gồm các electron và ion dương. Sự phóng điện vầng quang xảy ra khi các thác điện tích này trở nên tự duy trì.
Khi đó cường độ điện trường giảm mạnh ở vùng xa với bề mặt dây dẫn. Khi đó sự phóng điện chỉ hạn chế tại lớp mỏng xung quanh dây dẫn và được gọi là lớp ion hóa. Vầng quang trên đường dây truyền tải tùy thuộc vào phân cực của dây dẫn mà ta có vầng quang điện thế dương và vầng quang điện thế âm. Vầng quang trong cấu trúc đường dây mang điện thế dương và đất tạo thành các tia lửa và xung phát sáng xảy ra một cách ngẫu nhiên.
Khi điện áp dây dẫn càng lớn, các xung này xảy ra thường xuyên hơn và tạo thành các xung phát sáng ở gần dây dẫn. Các electron được tạo ra trong lớp ion hóa được hút về phía dây dẫn, các ion dương di chuyển ngược về phía xuống đất. Trong trường hợp dây dẫn mang điện âm, sự phóng điện xung xảy ra thường xuyên hơn gọi là xung Trickle, tần số của các xung này tùy thuộc vào điện áp của dây dẫn, điện áp càng cao thì các xung Trickle được tạo ra đều đặn hơn. Các electron tạo ra từ lớp ion hóa nhanh chóng lắp đầy lớp không khí xung quanh.
Các ion âm di chuyển về đất trong khi các ion dương di chuyển về phía dây dẫn để trung hòa các ion âm. Như đã biết, khi vầng quang xảy ra trên đường dây monopolar, lớp ion hóa xung quanh dây dẫn đóng vai trò như vùng t ạo ra các điện tích không gian cùng cực với vầng quang dây dẫn. Vì thế toàn bộ khoảng không gian giữa dây dẫn và đất được lắp đầy các điện tích này. Vận tốc di chuyển của các điện tích này phụ thuộc 22 CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU vào độ lớn điện trường kE (hoặc – kE) với k là độ chuyển động của các ion và E là cường độ điện trường.
Khi đó mật độ dòng vầng quang được tính như sau: j = k||E Trong đó là mật độ điện tích không gian. Trong trường hợp đường dây bipolar với hai dây dẫn vận hành song song nhau và song song với đất có cực trái dấu nhau, khi đó các điện tích âm và điện tích dương được tạo ra tại vùng gần 2 dây dẫn. Các điện tích không gian được tạo ra từ dây dẫn này di chuyển về phía dây dẫn kia và ngược lại khi đó các điện tích không gian này lắp đầy khoảng không và xảy ra hiện tương tái kết hợp. 23 CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TOÁN TRƯỜNG ION HÓA CHƯƠNG 2 LÝ THUYẾT VẦNG QUANG ĐIỆN MỘT CHIỀU 2.1 LÝ THUYẾT VẦNG QUANG Trong chương này giới thiệu vắn tắt về nền tảng vật lý của vầng quang một chiều.
Quá trình hình thành vầng quang trên dây dẫn. Như đã trình bày ở phần trước, vầng quang là sự phóng điện một phần nó xảy ra tại lớp không khí lân cận của dây dẫn nhưng không đánh thủng điện trường. Điều này có thể xảy ra dọc chiều dài đường dây dẫn, hoặc tại các vùng xung quanh các điểm có hình dạng bất thường trên bề mặt dây dẫn điện áp cao. Với giá trị điện cao áp truyền tải trên đường dây, vầng quang bắt đầu khi điện trường tại các vùng lân cận xung quanh đường dây đạt đến giá trị phá hủy không khí.
Lớp vầng quang xung quanh đường dây truyền tải gọi là lớp ion hóa. Lớp ion hóa xung quanh dây dẫn thẳng như hình 2. Trong đó điện trường của lớp ion hóa là lớn hơn điện trường của các electron do va đập . Tùy thuộc vào sự sắp xếp của dây dẫn trên đường dây truyền tải mà lớp ion hóa thường không đối xứng qua dây dẫn.
Trong thực tế, bề dày của lớp ion hóa này được bỏ qua vì nó quá nhỏ so với chiều cao của dây dẫn so với đất. 24 CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TOÁN TRƯỜNG ION HÓA Lớp ion hóa Hình 2.1: Cấu trúc lớp ion hóa xung quanh dây dẫn Quá trình phóng điện bên trong lớp ion hóa tùy thuộc vào độ phân cực của điện áp và vầng quang trên dây dẫn mang điện âm và dương là khác nhau.1 Vầng quang tại điện cực dương Khi điện áp dây dẫn tương đối cao hơn giá trị điện áp khởi tạo vầng quang, độ lớn điện trường xung quanh dây dẫn đủ mạnh để làm tăng tốc các electron tự do tại lớp ion hóa di chuyển về phía điện cực dương. Các electron này đạt được đủ năng lượng và ion hóa các phân tử không khí do va chạm. Bỏ lại một ion dương phía sau, các electron mới hình thành tiếp tục di chuyển dọc theo điện trường và lặp lại sự va chạm hình thành nên thác đi ện tích.