CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỘ TIN CẬY VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN ĐỘ TIN CẬY CỦA HỆ THỐNG ĐIỆN 1.1 Tổng quan về độ tin cậy Độ tin cậy cung cấp điện của lưới điện phân phối được hiểu là khả năng của hệ thống cung cấp đầy đủ và liên tục điện năng cho hộ tiêu thụ với chất lượng điện năng (Điện áp và tần số) đảm bảo (đúng quy định). Để đánh giá độ tin cậy cung cấp điện, đã có các quy định về chỉ tiêu suất sự cố (đường dây và trạm biến áp) trong quản lý vận hành hệ thống điện để làm cơ sở cho việc đánh giá chất lượng quản lý vận hành nguồn lưới đáp ứng yêu cầu cung ứng điện liên tục cho khách hàng. Ví dụ EVN giao chỉ tiêu như sau: - Suất sự cố thoáng qua đường dây trung thế : 12 vụ / 100 km. - Suất sự cố vĩnh cửu đường dây trung thế : 2,6 vụ / 100 km.
- Suất sự cố vĩnh cửu TBA : 1,8 vụ / 100 MBA.năm Từ các quy định trên đã buộc các đơn vị thành viên phải tích cực đưa ra kế hoạch và các phương án cải thiện chất lượng cung ứng điện trên hệ thống điện toàn quốc, đồng thời có tác động tích cực đến ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ công nhân viên làm công tác quản lý kỹ thuật vận hành hệ thống điện. Tuy nhiên, việc đánh giá độ tin cậy cung cấp điện qua chỉ tiêu suất sự cố còn một số bất cập sau : - Chỉ tiêu suất sự cố chỉ cho biết số lần mất điện (do sự cố) trung bình của hệ thống. Ta không biết được số lần và thời gian mất điện của khách hàng, cũng như phạm vi mất điện, lượng công suất và điện năng không cung cấp được (do mất điện); từ đó tính toán các thiệt hại do mất điện gây ra và đề ra các biện pháp thích hợp để giảm số lần và thời gian mất điện khách hàng, cũng như giảm phạm vi mất điện để tăng độ tin cậy của hệ thống. - Với chỉ tiêu suất sự cố nêu trên, ta không thấy rõ hiệu quả kinh tế đem lại của các dự án cải tạo lưới điện, lắp đặt các hệ thống tự động phân đoạn sự cố cũng như hệ thống tự động hoá lưới điện phân phối, đặc biệt là sự cần thiết phải xây dựng các mạch liên lạc giữa các trạm nguồn, các mạch vòng cung cấp điện.
để giảm thời gian mất điện cũng như hạn chế phạm vi (số hộ mất điện, lượng công suất và điện năng không cung LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cấp được) do sự cố hoặc thao tác hay bảo dưỡng thí nghiệm định kỳ. Để giải quyết vấn đề trên, cần phải xây dựng thêm nhiều chỉ tiêu cụ thể để đánh giá thực chất độ tin cậy cung cấp điện và chất lượng vận hành của lưới điện cũng như công tác quản lý vận hành. Một số Công ty Điện lực ở các nước đã xây dựng các chỉ số chất lượng để theo dõi độ tin cậy vận hành của hệ thống. Các chỉ số chất lượng này có thể dùng để so sánh chất lượng phục vụ giữa các Công ty, giữa các đơn vị trong cùng Công ty hay dùng để so sánh trực tiếp chất lượng trước và sau cải tạo của một xuất tuyến hay của cả một hệ thống.
Tổ chức IEEE (Institute of Electrical and Electronic Engineers) của Mỹ đã xây dựng một số chỉ số để đánh giá độ tin cậy cung cấp điện, cụ thể như sau : 1.1 Các chỉ số đánh giá độ tin cậy về mặt mất điện kéo dài 1. Chỉ số tần suất mất điện trung bình của hệ thống (System Average Interruption Frequency Index – SAIFI): Chỉ số này cung cấp thông tin về số lần mất điện trung bình của một khách hàng (trong một khu vực) trong một năm. Chỉ số thời gian mất điện trung bình của hệ thống (System Average Interruption Duration Index - SAIDI): Chỉ số này cung cấp thông tin về thời gian (phút hoặc giờ) mất điện trung bình của một khách hàng (trong một khu vực) trong một năm. Chỉ số thời gian mất điện trung bình của khách hàng (Customer Average Interruption Duration Index - CAIDI): Chỉ số này thể hiện thời gian trung bình cần để phục hồi cung cấp điện cho khách hàng trong một lần mất điện (vĩnh cửu).
Chỉ số tổng thời gian mất điện trung bình của khách hàng (Customer Total Average Interruption Duration Index - CTAIDI): Đối với khách hàng thực tế đã mất điện, chỉ số này thể hiện tổng thời gian trung bình khách hàng trong thông báo bị mất điện. Chỉ số này được tính toán như chỉ số CAIDI, trừ việc khách hàng bị mất điện nhiều lần chỉ được tính một lần. Chỉ số tần suất mất điện trung bình của khách hàng (Customer Average Interruption Frequency Index -CAIFI): Chỉ số này thể hiện số lần mất điện trung bình của một khách hàng (trong một khu vực) trong một năm. Chỉ số sẵn sàng cấp điện trung bình (Average Service Availability Index LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ASAI): Chỉ số này thể hiện thời gian trung bình (thường tính bằng %) mà khách hàng được cung cấp điện trong vòng một năm.
Được định nghĩa là tỉ số giữa tổng số giờ của khách hàng được cung cấp trong năm và tổng số giờ khách hàng yêu cầu (số giờ khách hàng yêu cầu = 24giờ/ ngày*365 ngày = 8760 giờ ). Chỉ số tần suất mất điện trung bình của hệ thống (Average System Interruption Frequency Index – ASIFI) về mặt phụ tải : Được định nghĩa là tỉ số giữa tổng số công suất (kVA) bị gián đoạn trên tổng số công suất (KVA) được cung cấp. Đây là chỉ số quan trọng đối với các khu vực cấp điện chủ yếu cho công/thương nghiệp. Chỉ số này cũng được sử dụng bởi các công ty không có hệ thống theo dõi khách hàng.
Chỉ số thời gian trung bình mất điện của hệ thống (Average System Interruption Duration Index – ASIDI) về mặt phụ tải : Được định nghĩa là tỉ số giữa tổng điện năng không cung cấp được (do bị gián đoạn cung cấp điện) trên tổng số công suất (KVA) được cung cấp. Chỉ số tần suất mất điện trung bình của khách hàng (Customers Experiencing Multiple Interruptions - CEMIn): Chỉ số này để theo dõi số sự kiện (n) những lần mất điện đối với một khách hàng nào đó. Mục đích là xác định sự phiền toái cho khách hàng mà giá trị trung bình không thấy được.2 Các chỉ số đánh giá độ tin cậy về mặt mất điện thoáng qua 1. Chỉ số tần suất mất điện thoáng qua trung bình của hệ thống (Momentary Average Interruption Frequency Index – MAIFI): Chỉ số này cung cấp thông tin về số lần mất điện thoáng qua trung bình của một khách hàng (trong một khu vực) trong một năm.
Chỉ số tần suất mất điện thoáng qua trung bình của hệ thống (Momentary Average Interruption event Frequency Index – MAIFIE): Chỉ số này cung cấp thông tin về con số trung bình của các sự kiện mất điện thoáng qua của một khách hàng (trong một khu vực) trong một năm. Chỉ số tần suất mất điện (thoáng qua và kéo dài) trung bình của khách hàng (Customers Experiencing Multiple Sustained Interruptions and Momentary Interruptions events CEMSMIn): Chỉ số này để theo dõi số sự kiện (n) những lần mất điện thoáng qua và kéo dài đối với một khách hàng nào đó. Mục đích là xác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định sự phiền toái cho khách hàng mà giá trị trung bình không thấy được.3 Một số chỉ số đánh giá độ tin cậy cung cấp điện khác 1. Chỉ số độ không sẵn sàng cấp điện trung bình (Average Service Unavailability Index - ASUI) 2.
Chỉ số điện năng không cung cấp (Energy Not supplied Index - ENS) 3. Chỉ số điện năng không cung cấp trung bình (Average Energy Not supplied Index - AENS) Phần lớn các nước trên thế giới đang áp dụng các chỉ số SAIFI, SAIDI, CAIFI, CAIDI để đánh giá độ tin cậy cung cấp điện và hiện nay Việt Nam đang triển khai áp dụng các chỉ số SAIDI, SAIFI, MAIFI để đánh giá độ tin cậy cung cấp điện.2 Hệ thống điện và các phần tử - Hệ thống nói chung: là tập hợp các phần tử tương tác trong một cấu trúc nhất định nhằm thực hiện một nhiệm vụ xác định, có sự điều khiển thống nhất trong hoạt động. Bản thân các phần tử có thể có cấu trúc phức tạp, nếu xét riêng nó là một hệ thống. - Hệ thống năng lượng: là một tập hợp những NMĐ, TBA, các hộ tiêu thụ điện và nhiệt nối lại với nhau bằng các mạng điện và nhiệt.
- Hệ thống điện: là một bộ phận của Hệ thống năng lượng gồm các nhà máy phát điện, thiết bị phân phối điện, mạng điện cung cấp tới các hộ tiêu thụ điện và sử dụng điện. - Người ta còn sử dụng khái niệm hệ thống cung cấp điện (HTCCĐ) để chỉ tập hợp các phần tử nằm trong sơ đồ phần lưới điện cung cấp cho phụ tải một khu vực. Khi đó lưới điện phân phối có thể hiểu là HTCCĐ địa phương. Các khái niệm này chỉ có ý nghĩa tương đối (không hoàn toàn chính xác).
- Mạng điện: là một bộ phận của hệ thống điện bao gồm các TBA, đường dây tải điện và có các cấp điện áp khác nhau. - Phần tử: là các bộ phận tạo thành hệ thống mà trong một quá trình nhất định, được xem là một thực thể duy nhất không thể chia cắt được, đặc trưng bởi các thông số độ tin cậy chung, chỉ phụ thuộc các yếu tố bên ngoài chứ không phụ thuộc và cấu trúc bên trong của phần tử. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Độ tin cậy của các phần tử hệ thống cung cấp điện [1] Độ tin cậy của HTĐ là xác xuất để hệ thống (hoặc phần tử) hoàn thành triệt để nhiệm vụ được giao trong khoảng thời gian nhất định và trong điều kiện vận hành nhất định. Như vậy ĐTC luôn gắn liền với việc hoàn thành một nhiệm vụ cụ thể, trong khoảng thời gian nhất định và trong hoàn cảnh nhất định.
Khả năng hư hỏng của các phần tử trong HTCCĐ (Máy phát, đường dây, MBA, MCĐ…) trong vận hành đều có thể bị hỏng bất ngờ. Khả năng này được đặc trưng bởi các thông số đặc trưng cho ĐTC của phần tử a. Là số lần hỏng hóc trung bình của phần tử trong 1 đơn vị thời gian.Cường độ hỏng hóc phụ thuộc vào các giai đoạn trong thời gian hoạt động của phần tử λt = 1 / tlv (lần/năm), Trong đó tlv là thời gian trung bình của trạng thái làm việc tốt. Thời gian làm việc trung bình T0 To là giá trị trung bình của thời gian làm việc của phần tử.