CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ BIỂU HIỆN TÍNH BẢN ĐỊA TRONG KIẾN TRÚC ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Vấn đề bản địa trong luận án - Bản địa Trước hết, tra cứu ý nghĩa của từ “Bản địa” trong tiếng Việt thì thấy: + Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 1997) [48] giải nghĩa “Bản địa” = Bản thân địa phương được nói đến.
Đây là cách nói tự tôn đề cao chủ thể (như “bản quan”, “bản phủ”,.) nhưng ngay sau đó lại ghi chú là để dùng phụ sau danh từ. + Từ điển Từ và ngữ VN [38] thì giải nghĩa “Bản địa” (bản: gốc, địa: đất) = Cái vốn có ở tại chỗ [47]Cách hiểu này dẫn tới quan niệm có phần cứng nhắc là cái mới được tạo dựng thì không thể gọi là bản địa (BĐ). + Từ điển Bách khoa VN [13] chỉ có “Bản địa” với nghĩa sinh học chỉ các loài sinh vật hình thành và phát triển ở một vùng địa lý nhất định. + Từ điển Bách khoa XD-KT không có mục từ này.
Từ điển Bách khoa XD chỉ có “Bản địa” với nghĩa về MT (trái nghĩa với “Ngoại lai”), dùng để chỉ: a) Những sinh vật trong đất mà hoạt động không bị ảnh hưởng bởi chất hữu cơ đưa thêm vào; b) Đá hay VC hữu cơ, trong đó các hợp phần chủ yếu đã hình thành tại chỗ. Như vậy, “bản địa” ban đầu là những yếu tố có nguồn gốc TN, hoặc được chọn lọc TN để sinh tồn ở một địa phương nhất định (một cách khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của con người). Việc ghép BĐ với các yếu tố có nguồn gốc nhân văn (văn hóa BĐ, kiến trúc BĐ, tinh thần BĐ,.) là phát sinh sau khi con người đã áp chế TN. Nhìn chung, có thể hiểu “bản địa” dùng để chỉ mối quan hệ của sự vật, hiện tượng gắn liền với một phạm vi địa lý xác định, một vùng miền cụ thể.
Tìm kiếm trong các ngôn ngữ phương Tây thì không có một từ gốc duy nhất với nghĩa chính thống là “bản địa” mà có nhiều từ khác nhau và trong những ngữ cảnh nhất định có thể được dịch là “bản địa” (nhưng bên cạnh đó vẫn có những nghĩa khác cách dịch khác phổ biến hơn). VD trong tiếng Anh: khi nói về kiến trúc thì thường dùng Vernacular (bản địa) hoặc Local (địa phương) ngoài ra cũng có lúc có chỗ dùng Indigenous (bản xứ), Identity (bản sắc), Primitive (nguyên thủy), Native (bẩm sinh, luan an 8 TN), Folk (dân gian), Traditional (truyền thống), Original (nguyên bản), Basic (gốc, cơ sở), Aboriginal (sơ khai, của thổ dân), Autochthonous (tự thân),. Trong tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ phương Tây, “bản địa” không đứng độc lập không phải là danh từ có thể làm chủ ngữ mà đều là tính từ bổ nghĩa cho đối tượng đứng trước nó (VD: yếu tố BĐ, giá trị BĐ, văn hóa BĐ, kiến trúc BĐ,. Trong tiếng Anh, “Vernacular” như một danh từ vốn chỉ có nghĩa là “thổ ngữ, bản ngữ” (khi đối chiếu với một ngôn ngữ chính thống được viết thành văn bản) lấy từ chữ Latinh “Vernāculus” nghĩa là “gốc, nội bộ” (trong phạm vi hẹp).
Sau này khi đề cập những đối tượng nói chung không đếm được, không xác định cụ thể thì vẫn dùng “the Vernacular” chứ không có các danh từ “cái bản địa” và / hoặc “tính bản địa” như các chuỗi từ phổ biến (từ gốc à danh từ à động từ, tính từ, trạng từ). Trong khi đó, từ gốc Locus, Loci (tiếng Latinh) đã hình thành chuỗi Locale - Local - Locally - Locality - Localize, Localise - Localisation (và nhánh Locate - Location - Locational); nhưng Locality có nghĩa là “vị trí, khu vực” chứ không phải “tính địa phương”, Localize/se có nghĩa là “khoanh vùng, cục bộ hóa” chứ không hẳn là “BĐ hóa”. Đại đa số các nghĩa được chấp nhận hiện nay của “Vernacular” đều thuộc lĩnh vực ngôn ngữ, chỉ có một nghĩa về kiến trúc chỉ những kiểu cách địa phương nói chung (để phân biệt với các phong cách lớn có tính hàn lâm kinh điển). Một số từ phái sinh như Vernacularism, Vernacularize chỉ được dùng bởi một số tác giả trong một số trường hợp chứ chưa được thừa nhận và phổ biến rộng rãi.
VD: Vernacularism (= đặc từ, đặc ngữ) và Vernacularize (= dịch sang ngôn ngữ phổ thông) chỉ dùng trong Ngôn ngữ học; Vernacularization (= quá trình, trạng thái BĐ hóa) cũng chỉ được ghi trong Webster’s Dictionary [215], mà không có mặt trong các bộ từ điển phổ thông truyền thống. Thực tế này càng khẳng định sự ra đời tương đối muộn của khái niệm “Bản địa” nói chung (trong lĩnh vực ngôn ngữ) cũng như của những ý nghĩa mở rộng, phái sinh sau đó (trong các lĩnh vực khác). - Tính bản địa Như vậy, ý nghĩa của “bản địa” và “tính BĐ” trong các lĩnh vực VH và kiến trúc vẫn chưa được ghi nhận chính thức và thống nhất, gây khó khăn cho công tác nghiên cứu và lý luận phê bình. Việc dịch thuật chuyển ngữ đơn thuần cũng không chuyển tải luan an 9 hết được sự phong phú và phức tạp của vấn đề đang được cả thế giới quan tâm, dẫn đến việc chúng ta bị chi phối và bị dẫn dắt bởi những quan điểm đến từ bên ngoài khi phải mượn cách nhìn và cách viết của của phương Tây để nói về VH Việt, kiến trúc Việt ngay trên đất nước mình.
Do hoàn cảnh lịch sử để lại và xu thế toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, nên về mặt ngôn ngữ thì không thể bỏ được các từ “bản địa” và đặc biệt là “tính BĐ” (đã trở thành phổ biến và quen dùng trong tiếng Việt) song cần thiết phải làm rõ nội hàm (ý nghĩa) và ngoại diện (biểu hiện) của chúng để sử dụng cho phù hợp. Trong tiếng Anh, mặc dù có nhiều tính từ có thể mang nghĩa “bản địa”, nhưng không có danh từ nào chỉ đích danh “tính BĐ”. Vernacularity (với nghĩa là tính chất, trạng thái của cái BĐ) chỉ được ghi nhận trong Collins Dictionary [122] trong tiếng Việt, có thể diễn giải khái niệm này bằng suy luận logic như sau: Tính BĐ là thuộc tính (tính chất) phổ biến của các sự vật, hiện tượng trong phạm vi xác định của một vùng miền, một địa phương; được tạo nên bởi các nhân tố BĐ; và phản ánh mối quan hệ thống nhất hữu cơ giữa sự vật, hiện tượng với MT bao chứa nó. Nhân tố bản địa ở đây là những yếu tố đã hiện diện từ lâu đời trong một phạm vi địa lý và không gian VH cụ thể, đóng vai trò là căn nguyên / nguồn gốc hình thành đặc điểm, tính chất riêng của các sự vật, hiện tượng tại đó.
Đó chính là các điều kiện tự nhiên (địa hình, khí hậu, cảnh quan,.) của một địa phương và ngữ cảnh VH-XH của cộng đồng dân cư sinh sống tại địa phương đó. Kiến trúc bản địa Trong tiếng Việt, kiến trúc BĐ được hiểu nôm na là “kiến trúc vốn có từ trước ở địa phương”tức là kiến trúc dân gian, kiến trúc truyền thống tại một vùng miền nhất định, được XD bởi những người dân sinh sống ở đó, chịu ảnh hưởng của MT STTN và môi trường VH-XH của địa phương đó. Kiến trúc BĐ là thuật ngữ phổ biến ở phương Tây. Trong tiếng Anh, mặc dù có nhiều từ có thể hiểu là “bản địa”, nhưng “kiến trúc BĐ” thì hầu như chỉ dùng “Vernacular Architecture” tuy nhiên nội hàm cụ thể thì không thống nhất.
Trước hết, nó bắt nguồn từ cách nói của thực dân phương Tây từ nhiều thế kỷ trước khi đến chinh phục và khai thác thuộc địa để chỉ kiến trúc vốn có của cư dân bản xứ. Ngày nay, các nghiên cứu của phương Tây cũng bắt đầu dùng “Vernacular Architecture” khi đề cập luan an 10 những kiến trúc vốn có từ trước thời kỳ hiện đại tại các địa phương của châu Âu (nằm cách xa các khu vực trung tâm nên ít bị ảnh hưởng bởi sự phát triển hiện đại). Nói chung, kiến trúc BĐ thường được hiểu như kiến trúc dân gian hoặc kiến trúc truyền thống (mặc dù có những khác biệt nhất định). “Kiến trúc dân gian bao gồm những nhà ở, nơi thờ tự, nhà kho và các cấu trúc khác, được thiết kế và XD mà không có sự trợ giúp của các KTS được đào tạo chuyên nghiệp” (Allen Noble, [132] ).
Kiến trúc dân gian có xu hướng thực dụng, phản ánh nhu cầu, phong tục, tín ngưỡng, kinh tế của một cộng đồng; đại diện cho tri thức cộng đồng về những vấn đề XD cụ thể. Kiến trúc truyền thống là những kiểu nhà được truyền từ đời này sang đời khác, trải qua nhiều thế hệ. Kiến trúc BĐ cũng là của người dân và sử dụng VL tại chỗ, nhưng có thể được XD bởi các phường thợ có tay nghề cao. Ở nhiều vùng, kiến trúc BĐ, kiến trúc dân gian / truyền thống là những kiểu cách chủ đạo trong diện mạo kiến trúc, cung cấp những thông tin quan trọng để hiểu và lý giải những ý tưởng, quan niệm, truyền thống, phong tục, VH, tín ngưỡng và các mối quan hệ cộng đồng.
Theo Paul Oliver [134] thì không có định nghĩa chung về kiến trúc BĐ mà nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết giữa ngôi nhà và người dân. Kiến trúc BĐ gắn liền với một cộng đồng sống trong một khu vực địa lý đặc thù, đã đạt được một mức độ nhận thức chung trong hành vi. Kiến trúc BĐ có truyền thống lâu đời, được làm thủ công (không có thiết kế nhưng không phải là không có suy nghĩ). Sự khác biệt cơ bản là các KTS chuyên nghiệp muốn áp đặt thứ kiến trúc độc đáo và sáng tạo của cá nhân, còn người dân thì sử dụng các hình mẫu có sẵn trong phạm vi của cộng đồng.
Kiến trúc BĐ bao gồm nhà ở và các công trình do người dân XD bằng công nghệ truyền thống, phù hợp với MT và nguồn lực tại chỗ. Tất cả kiến trúc BĐ đều đáp ứng nhu cầu cụ thể, lối sống, điều kiện kinh tế, chứa các giá trị của nền VH đã tạo ra chúng. Bối cảnh của kiến trúc BĐ bao gồm những trải nghiệm, kinh nghiệm, quy tắc về XD và định cư đã được cả XH công nhận và thích hợp với MT ở đó. Đặc điểm chung của kiến trúc BĐ là được hình thành theo bối cảnh MT và phụ thuộc vào VL sẵn có tại ĐP.
Địa thế quyết định việc lựa chọn địa điểm, hình thức cư trú và phương thức SX kinh tế. Khí hậu là yếu tố rất quan trọng vì việc cư trú phải thích ứng với khí hậu, mà khí hậu thì tạo nên nguồn tài nguyên thiên nhiên và ảnh luan an 11 hưởng đến VH của ĐP. Theo Shuzo Murakami & Toshiharu Ikagawa: Kiến trúc BĐ là nhà cửa truyền thống được thiết kế và XD phù hợp với khí hậu và VH địa phương [131] .