Chương V: Transistor Lưỡng Cực (BJT) - Cấu Trúc, Nguyên Lý Hoạt Động và Ứng Dụng

Tìm hiểu về cấu trúc, nguyên lý hoạt động và ứng dụng của transistor hai tiếp giáp BJT trong điện tử. Khám phá kiến thức chuyên sâu.

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Kỹ Thuật Điện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

bài giảng

2003

98
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

5. CHƯƠNG 5: TRANSISTOR HAI TIẾP GIÁP (BJTs)

5.1. Cấu trúc vật lý, nguyên lý hoạt động của BJT

5.2. Đặc tuyến V-A của BJT

5.3. Các mạch BJT ở chế độ một chiều

5.4. BJT hoạt động ở chế độ khuếch đại và chế độ chuyển mạch

5.5. Phân cực trong các mạch khuếch đại dùng BJT

5.6. Hoạt động của BJT với tín hiệu nhỏ và các mô hình tương đương

5.7. Các mạch khuếch đại BJT đơn tầng

5.8. Đáp ứng tần số của mạch khuếch đại emitơ chung

5.9. Tổng kết

5.10. Bài tập

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƢƠNG 5 TRANSISTOR HAI TIẾP GIÁP (BJTs) Giới thiệu 5.1 Cấu trúc vật lý, nguyên lý hoạt động của BJT 5.2 Đặc tuyến V-A của BJT 5.3 Các mạch BJT ở chế độ một chiều 5.4 BJT hoạt động ở chế độ khuếch đại và chế độ chuyển mạch 5.5 Phân cực trong các mạch khuếch đại dùng BJT 5.6 Hoạt động của BJT với tí n hiệu nhỏ và các mô hình tương đương 5.7 Các mạch khuếch đại BJT đơn tầng 5.8 Đáp ứng tần số của mạch khuếch đại emitơ chung Tổng kết Bài tập GIỚI THIỆU Trong chương này chúng ta đi nghiên cứu một linh kiện ba cực quan trọng khác, đó là transistor lưỡng cực (BJT). Nội dung của chương này được trì nh bày song song và không phụ thuộc vào nội dung phần MOSFET trong Chương 4, do đó nếu muốn, transistor lưỡng cực có thể được nghiên cứu trước MOSFET. Những linh kiện ba cực hữu ích hơn rất nhiều so với những linh kiện hai cực, chẳng hạn như DIODES đã được nghiên cứu trong chương 3, bởi vì chúng có thể được sử dụng trong rất nhiều các ứng dụng, từ khuếch đại tín hiệu đến thiết kế mạch logic số và các mạch nhớ. Nguyên lý cơ bản là sử dụng điện áp giữa hai cực để kiểm soát dòng điện chạy trong cực thứ ba. Bằng cách này, một linh kiện ba cực có thể được sử dụng như là được điều khiển bởi một nguồn mà chúng ta đã học trong chương 1 và là cơ sở để thiết kế bộ khuếch đại. Ngoài ra tín hiệu điều khiển có thể được sử dụng để tạo ra dòng điện trong cực thứ ba bằng cách thay đổi từ 0 đến giá trị lớn, do vậy cho phép linh kiện hoạt động như một thiết bị chuyển mạch. Như chúng ta đã học trong Chương 1, bộ chuyển mạch là cơ sở cho việc thực hiện bộ biến đổi logic, là thành phần cơ bản của các mạch số. Sự phát minh của BJT vào năm 1948 tại phòng thí nghiệm Bell Telephone mở ra thời đại cho những mạch bán dẫn, mà các thiết bị điện tử làm thay đổi cách chúng ta làm việc, chơi, và sống. Sự phát minh của BJT cuối cùng cũng dẫn đến sự thống trị của công nghệ thông tin và sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức. Transistor lưỡng cực được sử dụng trong gần ba thập kỷ như là một linh kiện được lựa chọn trong cả các thiết kế của mạch rời rạc và mạch tích hợp. Mặc dù MOSFET đã được biết đến từ rất sớm nhưng phải đến những năm 1970 và 1980 nó mới trở thành đối thủ cạnh trạnh quan trọng với BJT. Tại thời điểm viết cuốn sách này (2003), MOSFET chắc chắn được sử dụng rộng rãi trong các thiết bị điện tử, và công nghệ CMOS là công nghệ được lựa chọn trong việc thiết kế các mạch tích hợp. Tuy vậy BJT vẫn là một linh kiện quan trọng và vượt trội trong những ứng dụng nhất định. Ví dụ như, độ tin cậy của các mạch dùng BJT dưới điều kiện môi trường khắc nghiệt làm cho chúng trở thành linh kiện có ưu thế vượt trội trong ngành điện tử ô tô, một lĩnh vực quan trọng và vẫn còn đang phát triển. BJT vẫn phổ biến trong thiết kế mạch rời rạc, trong đó một sự lựa chọn đa dạng của các loại BJT có sẵn cho các nhà thiết kế. Ở đây ta nên đề cập đến các đặc tính của transistor lưỡng cực cũng như hiểu rõ rằng có thể thiết kế mạch transistor có đặc tính dự đoán được và khá nhạy cảm với những thay đổi của các thông số linh kiện. BJT vẫn là linh kiện được ưu tiên trong các ứng dụng mạch tương tự đòi hỏi sự khắt khe, cả mạch tích hợp và rời rạc. Điều này đặc biệt đúng trong các ứng dụng tần số cao, chẳng hạn như mạch tần số vô tuyến (RF) cho các hệ thống không dây. Một họ mạch logic số tốc độ rất cao dựa trên transistor lưỡng cực, tên là mạch logic ghép emitơ vẫn còn được sử dụng. Cuối cùng transistor lưỡng cực có thể kết hợp với MOSFETs để tạo ra một mạch có tính mới mà vẫn giữ được lợi thế của MOSFET là trở kháng đầu vào cao và công suất tiêu thụ thấp, tần số hoạt động cao và khả năng chịu dòng lớn của transistor lưỡng cực. Công nghệ cuối cùng được biết như là BiMOS hoặc BiCMOS, và nó được tìm thấy ngày một nhiều trong các lĩnh vực ứng dụng (xem Chương 6,7,9 và 11). Trong chương này, chúng ta sẽ bắt đầu với mô tả đơn giản về hoạt động vật lý của BJT. Mặc dù đơn giản, mô tả vật lý cung cấp một cái nhìn sâu sắc đáng kể về đặc tính của transistor như là một phần tử của mạch. Sau đó chúng ta nhanh chóng chuyển từ mô tả dòng điện dưới dạng các điện tử và lỗ trống đến một nghiên cứu về đặc tí nh các cực của transistor. Các mô hình mạch cho sự hoạt động của transistor ở các chế độ khác nhau sẽ được phát triển và sử dụng trong phân tích và thiết kế các mạch transistor. Mục tiêu chính của chương này là để trình bày cho người đọc sự hiểu biết sâu sắc về BJT. Do đó vào cuối chương này người đọc có thể thực hiện nhanh chóng việc phân tích mạch transistor và thiết kế tầng khuếch đại đơn dùng transistor và các bộ biến đổi logic đơn giản.1 Cấu trúc vật lý, nguyên lý hoạt động của BJT 5.1 Đơn giản hóa cấu trúc và nguyên lý hoạt động Hình 5.1 chỉ ra một cấu trúc đơn giản của BJT. Một cấu trúc thực tế sẽ được chỉ ra sau (xem phụ lục A, trong đó có đề cập đến công nghệ chế tạo). Như được chỉ ra trong hình 5.1, BJT bao gồm 3 vùng bán dẫn: vùng phát (loại n), vùng gốc (loại p) và vùng góp (loại n). Một transistor như vậy được gọi là transistor npn. Một transistor khác như được chỉ ra trong hình 5.2 có một vùng phát loại p, một vùng gốc loại n, và một vùng góp loại p, và được gọi một transistor pnp.1 Cấu trúc đơn giản hóa của transistor npn.2 Cấu trúc đơn giản hóa của transistor pnp Mỗi cực được nối với một trong ba vùng bán dẫn của transistor, với các tên gọi là cực phát (E) , cực gốc (B) và cực góp (C). Transistor gồm có 2 tiếp giáp pn, tiếp giáp phát-gốc (EBJ) và tiếp giáp góp-gốc (CBJ). Tùy thuộc vào điều kiện phân cực (thuận hay ngược ) của mỗi lớp tiếp giáp này, transistor BJT hoạt động ở các chế độ khác nhau và được thể hiện trong Bảng 5.1 Các chế độ hoạt động của BJT Chế độ EBJ CBJ Cắt dòng Ngược Ngược Tích cực Thuận Ngược Tích cực ngược Ngược Thuận Bão hòa Thuận Thuận Chế độ tích cực, hay còn được gọi là chế độ Forward active, là một chế độ được sử dụng mà transistor hoạt động như một bộ khuếch đại. Các ứng dụng khóa điện tử (ví dụ các mạch logic) sử dụng cả hai chế độ cắt dòng và bão hòa . Chế độ tích cực ngƣợc (reverce active) có ứng dụng rất là giới hạn nhưng là một khái niệm quan trọng. Như chúng ta thấy ngay, các hạt tải điện với cả hai cực tính – đó là các điện tử và các lỗ trống tham gia vào quá trình dẫn dòng trong một transistor lưỡng cực, đó là lý do xuất phát cho tên gọi lưỡng cực.3 Dòng điện chảy trong một transistor npn được phân cực để hoạt động ở chế độ tích cực (các thành phần dòng ngược do trôi nhiệt của các hạt dẫn điện thiểu số sinh ra không được thể hiện).2 Hoạt động của transistor npn ở chế độ tí ch cƣ̣c Ta hãy bắt đầu xét hoạt động vật lý của transistor ở trong chế độ tí ch cực . Chế độ này được minh họa trong hình 5.3 cho transistor loại npn. Hai điện áp ngoài (thể hiện như nguồn pin) được sử dụng để thiết lập các điều kiện phân cực cần thiết cho chế độ hoạt động tí ch cực. Điện áp VBE dẫn đến cực gốc loại p có điện thế cao hơn so với điện thế ở cực phát loại n, do đó phân cực thuận ở lớp tiếp giáp phát-gốc. Điện áp góp-gốc VCB dẫn đến cực góp loại n có điện thế lớn hơn điện thế ở cực gốc loại p, dẫn đến phân cực ngược ở lớp tiếp giáp góp-gốc. Dòng điện Trong mô tả sau đây của dòng điện chỉ các thành phần dòng khuếch tán được xem xét. Dòng trôi nhiệt, do các hạt dẫn điện thiểu số sinh ra , thường rất nhỏ và có thể bỏ qua. Tuy nhiên ta sẽ nói nhiều hơn về các thành phần dòng này ở phần sau. Phân cực thuận ở lớp tiếp giáp phát-gốc sẽ dẫn đến có dòng chảy qua lớp tiếp giáp này. Dòng điện sẽ gồm hai thành phần: electrons chảy từ cực phát vào cực gốc, và lỗ trống chảy từ cực gốc vào cực phát . Sớm có thể thấy được , đó là rất mong muốn thành phần đầu tiên (điện tử từ cực phát đến cực gốc) ở một mức độ cao hơn so với thành phần thứ hai (lỗ trống từ cực gốc đến cực phát). Điều này có thể được thực hiện bằng cách chế tạo linh kiện với một cực phát nhiều tạp chất và một cực gốc có nồng độ tạp chất ít; nghĩa là linh kiện được thiết kế để có mật độ lớn các hạt điện tử ở cực phát và mật độ thấp các lỗ trống ở cực gốc. Dòng điện chảy qua lớp tiếp giáp phát - gốc sẽ tạo thành dòng điện phát i E như chỉ ra trong hình 5. Hướng của dòng i E đi ra từ đầu ra cực phát, cùng với hướng của dòng lỗ trống và ngược hướng với dòng điện tử, với dòng cực phát i E sẽ bằng tổng của hai thành phần này. Tuy nhiên, thành phần điện tử lớn hơn rất nhiều so với thành phần lỗ trống, dòng cực phát sẽ được chi phối bởi thành phần điện tử (electrons).4 Mô tả nồng độ của các hạt dẫn điện thiểu số trong cực gốc và cực phát của một transistor npn hoạt động ở chế độ tí ch cực : vBE  0 và vCB  0 . Bây giờ ta hãy xét các điện tử chảy từ cực phát vào cực gốc. Các điện từ này sẽ là các hạt dẫn điện thiểu số trong vùng cực gốc loại p. Bởi vì cực gốc thường rất mỏng , trong điều kiện ổn định, nồng độ các hạt thiểu số dư thừa ở cực gốc sẽ có một dạng gần như đường thẳng như thể hiện bằng đường thẳng nét liền trong Hình 5. Nồng độ điện tử (electron) sẽ cao nhất (ký hiệu là nP (0) ) ở phía cực phát (emitơ) và thấp nhất ở phía cực góp (collecter). Như trong trường hợp của bất kỳ lớp tiếp giáp p – n phân cực thuận nào (phần 3.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ