Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thương nghiệp tư nhân trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Chương 2: Thực trạng thương nghiệp tư nhân ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát triển thương nghiệp tư nhân Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. 6 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THƢƠNG NGHIỆP TƢNHÂN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.
Khái niệ m và các loại hình thương nghiệ p tư nhân 1. Khái niệ m thƣơng nghiệ p tƣ nhân và sự phát triể n thƣơng nghiệ p tƣ nhân ở nƣớc ta. Khái niệm thương nghiệp tư nhân. Có thể nói, sự hình thành và phát triển các thành phần kinh tế trong lĩnh vực thƣơng mại do đòi hỏi tất yếu của nền kinh tế hàng hoá, nhất là kinh tế thị trƣờng - giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá.Ăngghen đã khẳng định hai “chức năng” sản xuất và trao đổi là “đƣờng hoành và đƣờng tung của đƣờng cong kinh tế”.
Vì giữa sản xuất và trao đổi (thƣơng mại) có quan hệ hữu cơ trong quá trình tái sản xuất xã hội. Sự tác động qua lại giữa sản xuất và trao đổi không dừng lại ở quy mô, mà còn tác động đến trình độ phát triển của nhau cả về mặt quan hệ sản xuất và lực lƣợng sản xuất. Trong một nền kinh tế, lƣu thông (trao đổi) là một yếu tố, một giai đoạn quá độ của sản xuất; lƣu thông chỉ đơn thuần là sự thực hiện sản phẩm đã đƣợc sản xuất ra với tƣ cách là hàng hóa và sự thay thế các yếu tố sản xuất để tiếp tục sản xuất với tƣ cách là hàng hóa. Nhƣng trong quá trình đó lƣu thông lại trực tiếp làm xuất hiện một hình thái mới, đó là hoạt động thƣơng nghiệp.
Xét bề ngoài tƣởng 7 z nhƣ lƣu thông tách biệt với sản xuất, nhƣng thực chất lƣu thông nói chung, hoạt động thƣơng nghiệp nói riêng chỉ là một trong các khâu của quá trình tái sản xuất. Ở mỗi trình độ khác nhau, hoạt động thƣơng nghiệp trong các nền kinh tế cũng khác nhau. Khi nền sản xuất ở trình độ thấp, nhỏ lẻ, phân tán thì hoạt động trao đổi còn hạn chế ở phạm vi hẹp, hoạt động thƣơng nghiệp cũng còn ở tình trạng manh mún với quy mô nhỏ. Khi trình độ xã hội hóa sản xuất cao thì đòi hỏi thƣơng nghiệp cũng phải đƣợc xã hội hóa với trình độ tƣơng ứng.
Sản xuất hàng hóa càng phát triển cao thì quá trình trao đổi càng mở rộng và ngƣợc lại sự mở rộng và phát triển quá trình trao đổi sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển của sản xuất. Cũng nhƣ các nền kinh tế khác, thời kỳ đầu của nền kinh tế hàng hoá ở nƣớc ta sản phẩm thặng dƣ chƣa nhiều nên hoạt động thƣơng nghiệp chủ yếu là do tƣ nhân thu gom những sản phẩm thừa của những ngƣời sản xuất nhỏ nhƣ nông dân và thợ thủ công. Do vậy hiệu quả của hoạt động thƣơng nghiệp còn rất thấp. Nhƣng sự tồn tại của hoạt động thƣơng nghiệp đã làm cho sản xuất tách biệt tƣơng đối với trao đổi, làm cho sản xuất ngày càng có tính chất trao đổi, nên nó có tác dụng thúc đẩy quá trình tan rã những quan hệ sản xuất tự cung tự cấp.
Khi sản xuất hàng hoá phát triển thì hình thức thƣơng nghiệp do tƣ nhân thực hiện vẫn còn tồn tại nhƣng nó khác về cơ cấu, quy mô, mô hình tổ chức và phƣơng thức kinh doanh… và cũng có sự khác nhau giữa các nền kinh tế. Tuy nhiên vẫn có đặc điểm chung về thương nghiệp tư nhân đó là loại hình kinh doanh trong lĩnh vực lưu thông, dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân về vốn và các điều kiện kinh doanh. Điều kiện tồn tại của thƣơng nghiệp tƣ nhân, theo Mác, là sự tồn tại của lƣu thông hàng hoá và lƣu thông tiền tệ. Theo sự phát triển kinh tế, kinh doanh trong lĩnh vực lƣu thông ngày càng trở nên khó khăn, phức tạp dƣới các tác động của thị trƣờng và yêu cầu không ngừng mở rộng thị trƣờng.
Vì vậy, hoạt động trong lĩnh vực thƣơng nghiệp không chỉ đơn 8 z thuần bao gồm các hoạt động mua và bán thuần tuý mà còn đƣợc mở rộng thêm với các công đoạn có liên quan đến quá trình thúc đẩy nhanh việc mua bán hàng hóa. Đến nay, để thực hiện quá trình lƣu thông thuận lợi, các chủ thể kinh doanh thƣơng nghiệp buộc phải thực hiện nhiều hoạt động trƣớc và sau hoạt động mua, bán nhƣ: xúc tiến thƣơng mại (quảng cáo, đại diện thƣơng mại, môi giới thƣơng mại, uỷ thác mua bán hàng hóa…), gia công, chế biến, đóng gói hàng hóa, dịch vụ sau bán hàng (bảo hành, bảo dƣỡng…). Vì vậy, đã xuất hiện thuật ngữ mới thay thế cho thuật ngữ thƣơng nghiệp đó là thƣơng mại. Thƣơng mại ngày nay đƣợc hiểu là ngành kinh tế có chức năng tổ chức quá trình lƣu thông hàng hóa, dịch vụ; thực hiện chức năng tiếp tục sản xuất trong khâu lƣu thông, gắn sản xuất với thị trƣờng.
Hiện nay, tƣ nhân đầu tƣ vào nhiều lĩnh vực của khu vực kinh tế trong đó có thƣơng mại. Hoạt động của kinh tế tƣ nhân trong lĩnh vực thƣơng mại đƣợc thực hiện dƣới hình thức thƣơng mại tƣ nhân, cho nên có thể hiểu thương nghiệp tư nhân là hình thức vận động của nền kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương nghiệp dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân về vốn và các điều kiện kinh doanh. Sự phát triển của thương nghiệp tư nhân ở nước ta. Trƣớc đây, hoạt động thƣơng nghiệp ở nƣớc ta chủ yếu do thƣơng nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán nắm giữ tỷ trọng lớn trên thị trƣờng.
Bộ phận thƣơng nghiệp tƣ nhân chủ yếu hoạt động ở thị trƣờng “ngầm”. Thời kỳ trƣớc đổi mới (1986), ở nƣớc ta có gần 5000 doanh nghiệp thƣơng nghiệp quốc doanh, đƣợc phân bố khắp các địa bàn và kinh doanh mọi ngành hàng; lực lƣợng lao động rất lớn, khoảng 442,2 nghìn ngƣời. Cơ sở vật chất kỹ thuật cũng nhƣ vốn của những doanh nghiệp này hoàn toàn đƣợc Nhà nƣớc bao cấp. Tuy nhiên, cơ chế tập trung bao cấp đó đã làm cho các doanh nghiệp thƣơng nghiệp quốc doanh rơi vào tình trạng ỉ lại, làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả.
Để sắp xếp và đổi mới lại hoạt động của doanh nghiệp thƣơng nghiệp quốc doanh, ngày 9 z 7/3/1994 Thủ tƣớng Chính phủ ra Quyết định 90/TTg, sau đó đến tháng 5/1995 cả nƣớc chỉ còn 1351 doanh nghiệp thƣơng nghiệp quốc doanh. Số này so với 4700 doanh nghiệp năm 1991 đã giảm trên 3000 doanh nghiệp. Trƣớc thời kỳ đổi mới doanh nghiệp thƣơng nghiệp quốc doanh chiếm ƣu thế và giữ vai trò chi phối (nắm trọn bán buôn, chi phối 80% tổng mức bán lẻ xã hội), nhƣng bên cạnh đó vẫn tồn tại các hình thức thƣơng nghiệp tƣ nhân, chỉ có điều khi đó thƣơng nghiệp tƣ nhân là đối tƣợng cần “cải tạo” hoặc bị phủ nhận. Vai trò của thƣơng nghiệp tƣ nhân chỉ đƣợc nhìn nhận đúng khi Đảng ta có chủ trƣơng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong đó khuyến khích kinh tế tƣ nhân phát triển.
Những chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc đối với kinh tế tƣ nhân nói chung và thƣơng nghiệp tƣ nhân nói riêng nhƣ sau: Sau khi nƣớc nhà giành đƣợc độc lập, ngày 13/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố “Trong lúc các giới khác trong quốc dân ra sức hoạt động để giành lấy nền hoàn toàn độc lập của nƣớc nhà, thì giới Công – thƣơng phải hoạt động để xây dựng một nền kinh tế và tài chính vững vàng và thịnh vƣợng. Chính phủ nhân dân và tôi sẽ tận tâm giúp giới Công – Thƣơng trong cuộc kiến thiết này” [27; 49] Ngày 17/3/1949, Liên Bộ kinh tế - Nội vụ có văn bản số 27/NV-KT “Nguyên tắc căn bản là tự do kinh doanh. Trong hoàn cảnh hiện tại nguyên tắc ấy càng cần đƣợc tôn trọng và những hoạt động kinh doanh tƣ nhân đang giữ một vai trò quan trọng trong điều hoà, phân phối giữa các vùng” [21; 3] Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951), xác định: Xây dựng kinh tế quốc dân cần có tƣ bản. Giai cấp tƣ sản dân tộc cần và có thể góp phần vào việc phát triển công thƣơng nghiệp nƣớc nhà.
Sau ngày miền Bắc giải phóng (1954), Chính phủ tiếp tục cho thực thi các chính sách đã áp dụng trong vùng kháng chiến đối với các vùng mới giải phóng. 10 z Ngày 30/3/1955, Chính phủ ban hành Nghị định quy định các doanh nghiệp tƣ nhân phải đăng ký kinh doanh, trong đó phải kê khai về vốn, lƣợng công nhân, mặt hàng sản xuất, nguồn nguyên liệu, doanh số, lãi,… Ngày 19/4/1957, Chính phủ ban hành sắc lệnh chống đầu cơ tích trữ. đây là văn bản pháp lý để Nhà nƣớc có quyền kiểm kê, khám xét, đánh thuế, tịch thu những kho hàng hoá tồn kho của tƣ nhân. Tháng 9/1957, Trung ƣơng Đảng công bố chủ trƣơng cải tạo tƣ doanh ở miền Bắc.
Đến tháng 1/1958 thành lập Ban cải tạo công thƣơng nghiệp tƣ doanh trực thuộc Trung ƣơng Đảng. Công việc cải tạo tƣ doanh bắt đầu từ đó và kết thúc vào tháng 9/1960 với 3065 doanh nghiệp trong đó có 1794 doanh nghiệp thƣơng nghiệp. Từ năm 1960 đến năm 1975 ở miền Bắc kinh tế tƣ nhân không đƣợc thừa nhận. Trên thực tế nó vẫn còn tồn tại buôn bán nhỏ lẻ, chủ yếu bộ phận kinh tế này hoạt động “ngầm”, hoạt động chui.
Sau ngày miền Nam giải phóng, Nghị quyết số 254/NQ-TW của Đảng thừa nhận kinh tế miền Nam là kinh tế nhiều thành phần trong đó tƣ bản tƣ nhân là thành phần hợp pháp. Nhƣng đến 16/2/1978 Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Nghị định số 15/TTg xem việc “xoá bỏ kinh tế tƣ nhân là vấn đề nóng bỏng trƣớc mắt cần tập trung sức càng sớm càng tốt”, phƣơng thức cải tạo đƣợc tiến hành tƣơng tự nhƣ đối với tƣ bản tƣ nhân miền Bắc những năm 1957 – 1960. Ngày 23/3/1978, chiến dịch bắt đầu với phƣơng châm: bí mật, bất ngờ cùng một lúc hầu nhƣ tất cả các cơ sở kinh doanh tƣ nhân ở miền Nam đều đƣợc lệnh kiểm kê tài sản và học tập cải tạo, trong đó có 31681 cơ sở quốc hữu hoá.