Chương 1: Lý luận chung về việc làm và công tác giải quyết việc làm. Chương 2: Thực trạng giải quyết việc làm ở tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2007-2009. Chương 3: Một số giải pháp giải quyết việc làm ở tỉnh Bắc Giang. 7 z CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC LÀM VÀ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 1.1 Nguồn lao động và lực lƣợng lao động Nguồn lao động và lực lượng lao động là khái niệm có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở cho việc tính toán cân đối lao động - việc làm trong xã hội.1 Nguồn lao động Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân [10].
Việc quy định cụ thể lao động là khác nhau giữa các nước, thậm chí khác nhau ở giai đoạn của mỗi nước. Ở nước ta, theo quy định của Bộ luật Lao động, độ tuổi lao động đối với nam từ 15 tuổi đến 60 tuổi và nữ từ 15 đến 55 tuổi [4]. Nguồn lao động luôn được xem xét trên hai mặt biểu hiện đó là số lượng và chất lượng. Nguồn lao động về mặt số lượng bao gồm: dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu việc làm và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi quy định).
Nguồn lao động xét về mặt chất lượng, cơ bản được đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghề, (trí lực) và sức khỏe (thể lực) của người lao động.2 Lực lượng lao động Trong kinh tế học những người trong lực lượng lao động là những người cung cấp lao động. Thông thường, lực lượng lao động bao gồm tất cả những người đang ở trong độ tuổi lao động - thường là lớn hơn một độ tuổi nhất định (trong khoảng từ 14 đến 16 tuổi) và chưa đến tuổi nghỉ hưu (thường trong khoảng 65 tuổi) đang tham gia lao động. Những người không được tính vào lực lượng lao động là những sinh viên, người nghỉ hưu, những cha mẹ ở nhà, những người trong tù, những người không có ý định tìm kiếm việc làm. Ở Hoa Kỳ, lực lượng lao động được xác định là những người từ 16 tuổi trở lên, đã có việc làm hoặc đang tìm kiếm việc làm.
Các Luật lao động trẻ em ở Hoa Kỳ cấm việc thuê người dưới 18 tuổi trong các nghề nguy hiểm [17]. Một phần nhỏ trong lực lượng lao động đang tìm kiếm việc làm nhưng không thể tìm được việc làm tạo thành đội quân thất nghiệp. Định nghĩa việc làm Tại Điều 13, chương 2 (việc làm) Bộ Luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [4]. Khái niệm này được vận dụng trong các cuộc điều tra về thực trạng lao động và việc làm hàng năm của Việt Nam và được cụ thể hoá thành ba dạng hoạt động sau: - Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương dưới dạng bằng tiền hoặc bằng hiện vật.
- Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân bao gồm: sản xuất nông nghiệp trên đất do chính thành viên được quyền sử dụng; hoặc 9 z hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần. - Làm công việc cho hộ gia đình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó. Bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ có quyền sử dụng, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý. Theo quan niệm trên, hoạt động được coi là làm việc cần thoả mãn hai điều kiện: + Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình.
+ Hai là, hoạt động đó phải đúng luật, không bị pháp luật cấm. Hai tiêu thức này có quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được thừa nhận là việc làm. Nếu một hoạt động chỉ tạo ra thu nhập nhưng vi phạm pháp luật như: trộm cắp, buôn bán herooin, mại dâm… không thể được công nhận là việc làm. Mặt khác, một hoạt động dù là có ích, những không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm - chẳng hạn như công việc nội trợ hàng ngày của phụ nữ cho chính gia đình mình: đi chợ, nấu cơm, giặt giũ quần áo…Những người phụ nữ đó cũng thực hiện các công việc nội trợ cho gia đình người khác thì hoạt động của họ lại được thừa nhận là việc làm vì được trả công.
Điểm đáng lưu ý là tuỳ theo phong tục, tập quán của mỗi dân tộc, pháp luật của các quốc gia mà có một số quy định khác nhau về việc làm. Các quy định này còn có điểm bất hợp lý, có những hoạt động có ích cho gia đình, xã hội, không vi phạm pháp luật, nhưng không tạo ra thu nhập “trực 10 z tiếp” cho người tham gia hoạt động - như công việc nội trợ của người phụ nữ… lại không được coi là việc làm. Nhờ phụ nữ làm công việc nội trợ đã góp phần làm giảm chi tiêu của gia đình, tạo điều kiện cho chồng, con yên tâm hoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời góp phần tăng thêm lượng vốn đầu tư vào sản xuất, phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho cả gia đình. Như vậy, thực chất của vấn đề công việc nội trợ của người phụ nữ cũng đã góp phần làm tăng thu nhập của cả gia đình.
Với ý nghĩa đó, luận văn sẽ định nghĩa việc làm là một dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, có thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thêm thu nhập cho người thân, gia đình hoặc cộng đồng. Việc làm là hình thức biểu hiện của lao động trong thực tế. Lao động là hoạt động của xã hội nói chung, phản ánh bản chất xã hội của con người nói chung còn việc làm là hoạt động cụ thể của mỗi người lao động khi tham gia vào quá trình lao động nói chung đó. Việc làm một mặt phản ánh mối quan hệ giữa những người lao động với tự nhiên bởi vì để làm việc người lao động phải sử dụng sức lao động của mình kết hợp với công cụ lao động, tác động lên đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu của con người.
Chính vì vậy việc làm chịu sự tác động của quy luật và điều kiện tự nhiên. Mặt khác, việc làm là kết quả của quá trình phân công lao động xã hội hình thành những ngành nghề khác nhau, mỗi người lao động tham gia quá trình lao động sản xuất với một việc làm cụ thể dựa vào kỹ năng chuyên môn của mình. Do đó, việc làm biểu hiện mối quan hệ giữa những người lao động với nhau, với xã hội. Vì vậy, việc làm cũng chịu tác động của các quy luật kinh tế - xã hội.
Như vậy, việc làm là cái vỏ xã hội, là cái khung pháp lý trong đó hoạt động lao động diễn ra. Lao động là phạm trù vĩnh viễn của xã hội loài 11 z người, việc làm là mối quan hệ giữa người lao động với một công việc, ngành nghề cụ thể. Có những nơi, những lúc có bộ phận người lao động không có việc làm những quá trình lao động sản xuất của con người không bao giờ dừng lại. Việc làm là công việc của mỗi cá nhân nhưng lại gắn liền với xã hội, có việc làm không những người lao động có thu nhập nuôi sống bản thân mà còn tạo ra một lực lượng của cải cho xã hội.
Với những điều kiện khác nhau không thay đổi thì khối lượng giá trị của sản phẩm tăng lên tỷ lệ thuận với số lượng lao động được sử dụng. Phân loại việc làm Có nhiều cách phân loại việc làm theo các chỉ tiêu khác nhau: phân loại việc làm theo mức độ sử dụng thời gian lao động, và phân loại việc làm theo vị trí lao động của người lao động. * Phân loại việc làm theo mức độ sử dụng thời gian lao động : + Việc làm đầy đủ: Với cách hiểu chung nhất là người có việc làm là người đang có hoạt động nghề nghiệp, có thu nhập từ hoạt động đó để nuôi sống bản thân và gia đình mà không bị pháp luật ngăn cấm. Tuy nhiên việc xác định số người có việc làm theo khái niệm trên chưa phản ánh trung thực trình độ sử dụng lao động xã hội vì không đề cập đến chất lượng của công việc làm.
Trên thực tế nhiều người lao động đang có việc làm nhưng làm việc nửa ngày, việc làm có năng suất thấp thu nhập cũng thấp. Đây chính là sự không hợp lý trong khái niệm người có việc làm và cần được bổ xung với ý nghĩa đầy đủ của nó đó là việc làm đầy đủ. Vậy với những người làm việc đủ thời gian qui định và có thu nhập lớn hơn tiền lương tối thiểu hiện hành là những người có việc làm đầy đủ. 12 z + Thiếu việc làm: Với khái niệm việc làm đầy đủ như trên thì thiếu việc làm là những việc làm không tạo điều kiện cho người lao động tiến hành nó sử dụng hết quĩ thời gian lao động, mang lại thu nhập cho họ thấp dưới mức lương tối thiểu và người tiến hành việc làm không đầy đủ là người thiếu việc làm.
Theo tổ chức lao động quốc tế (International Labour Organization - ILO) thì khái niệm thiếu việc làm được biểu hiện dưới hai dạng sau. - Thiếu việc làm vô hình: Là những người có đủ việc làm làm đủ thời gian, thậm chí còn quá thời gian qui định nhưng thu nhập thấp do tay nghề, kỹ năng lao động thấp, điều kiện lao động xấu, tổ chức lao động kém, cho năng suất lao động thấp thường có mong muốn tìm công việc khác có mức thu nhập cao hơn. Thước đo của thiếu việc làm vô hình là : Thu nhập thực tế KVH = x 100% Mức lương tối thiểu hiện hành - Thiếu việc làm hữu hình: Là hiện tượng người lao động làm việc với thời gian ít hơn quỹ thời gian qui định, không đủ việc làm và đang có mong muốn kiếm thêm việc làm và luôn sẵn sàng để làm việc.