ĐẶT VẤN ĐỀ Ô nhiễm môi trường đang tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của nhân loại hiện nay. Một trong số những nguyên nhân của sự ô nhiễm đó chính là do phân người nói riêng, và do các chất thải sinh hoạt của con người nói chung1. Theo Tổ chức y tế Thế giới (WHO) và Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) năm 2017, ước tính đến năm 2015 khoảng 4,4 tỷ (61%) người hiện đang sử dụng các công trình vệ sinh không được xử lý đúng cách. Các tác động của sự khan hiếm nước sạch và khả năng tiếp cận kém đến các công trình vệ sinh được chứng minh là nguyên nhân gây ra một số bệnh truyền nhiễm như: tiêu chảy, đau mắt hột, nhiễm sán máng và giun đường ruột1-3.
Hậu quả mỗi ngày có hơn ba nghìn trường hợp tử vong vì các bệnh do sử dụng nguồn nước không an toàn và điều kiện vệ sinh không đảm bảo gây ra. Tình trạng này còn trở nên nghiêm trọng hơn ở các nước đang phát triển, nhất là ở các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương4, 5. Chính vì lý do đó, nhu cầu sử dụng một nhà tiêu hợp vệ sinh để cô lập được phân, tiêu diệt được các mầm bệnh, hạn chế gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe là thật sự cần thiết6, 7. Năm 2017, tỷ lệ hộ gia đình Việt Nam có xây dựng và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh đạt khoảng 83,3%.
Tuy nhiên, tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh giữa các vùng, miền trong cả nước lại có sự chênh lệch tương đối lớn, nhất là ở những vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống8, 9. Theo kết quả điều tra nước sạch vệ sinh môi trường năm 2018 tại An Giang, tỷ lệ hộ gia đình có sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh tương đối cao (90,3%). Tuy nhiên, tỷ lệ này còn tương đối thấp hơn mặt bằng chung ở một số huyện miền núi, huyện dân tộc như Tri Tôn và An Phú lần lượt là 79,55% và 80,37%. Tương tự, trên địa bàn huyện Tri Tôn thì tỷ lệ sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh cũng có sự chênh lệch giữa 15 xã/thị trấn.
Nhất là những xã vùng sâu, vùng xa có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống, thì tỷ lệ này còn khá thấp (dưới 70%) như: An Tức, Núi Tô, Châu Lăng, Lê Trì và Ô Lâm so với mặt bằng chung của huyện10. Ô Lâm là một xã dân tộc miền núi đặc thù của huyện với 3390 hộ, trong đó số hộ người dân tộc Khmer chiếm 3290 hộ (97,3%)10. Kinh tế chủ yếu dựa vào hoạt 2 động sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi gia súc là chính. Dân cư phân bố tập trung thành các cụm dân cư tự phát theo dòng họ (Phum)11, 12.
Các Phum thường nằm cách xa các trục lộ giao thông chính, nên khó tiếp cận được mạng lưới cung cấp nước sạch của địa phương. Bên cạnh đó, do còn hạn chế về trình độ học vấn bất đồng ngôn ngữ, khó tiếp cận thông tin và điều kiện kinh tế gia đình còn khó khăn nên còn rất nhiều hộ chưa có điều kiện tiếp cận với nhà tiêu hợp vệ sinh. Theo kết quả điều tra nước sạch và vệ sinh môi trường năm 2018, tỷ lệ hộ gia đình xây dựng và sử dụng nhà tiêu so với tỷ lệ xây dựng và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh trên địa bàn tỉnh nói chung, và của người Khmer ở xã Ô Lâm nói riêng có sự chênh lệch không quá 1% (lần lượt là 90,3%; 89,4% của tỉnh và 66,02%; 65,58% ở xã Ô Lâm)10, 13. Sự chênh lệch này không có sự tương đồng so với báo cáo tổng quan thực trạng kinh tế - xã hội của 53 DTTS, năm 2017 là 55%11, 14.
Nhưng cho đến nay, chưa có một nghiên cứu nào về thực trạng và các yếu tố liên quan đến xây dựng, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh của người Khmer ở tỉnh An Giang để so sánh, đánh giá. Từ đó, địa phương sẽ có căn cứ để đưa ra các giải pháp can thiệp phù hợp, xác với tình hình thực tế hơn. Như vậy thực trạng xây dựng, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh của người Khmer ở xã Ô Lâm như thế nào? Có những yếu tố nào liên quan đến việc xây dựng, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh của họ? Các hoạt động để cải thiện về thực trạng nhà tiêu hợp vệ sinh đang thực hiện tại địa phương có phù hợp với tình hình thực tế không? Chính vì những lý do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng và yếu tố liên quan đến xây dựng, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh của ngƣời Khmer tại xã Ô Lâm, Tri Tôn, An Giang năm 2020” nhằm các mục tiêu nghiên cứu sau: 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng xây dựng, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh của người Khmer trên địa bàn xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang năm 2020.
Xác định một số yếu tố liên quan đến việc xây dựng, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh của người Khmer trên địa bàn xã Ô Lâm, Tri Tôn, An Giang năm 2020. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nhà tiêu hợp vệ sinh 1. Một số khái niệm về nhà tiêu hợp vệ sinh Nhà tiêu: Là hệ thống thu gom, xử lý phân và nước tiểu của con người.
Một NTHVS phải bảo đảm cô lập được phân, ngăn không cho phân chưa được xử lý tiếp xúc trực tiếp với động vật, côn trùng. Có khả năng tiêu diệt được các mầm bệnh có trong phân, không gây mùi hôi và gây ô nhiễm môi trường xung quanh7. Xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh: Là bao gồm các hoạt động như lập kế hoạch xây dựng, khảo sát xây dựng, lựa chọn mô hình phù hợp, lựa chọn đơn vị thi công, thi công xây dựng, giám sát thi công và các hoạt động khác có liên quan15. Sử dụng nhà tiêu: Là hoạt động tuân thủ các quy định về cách vận hành, vệ sinh, bảo dưỡng nhà tiêu.
Hoạt động sử dụng và bảo quản luôn được tiến hành song song, để đảm bảo nhà tiêu vận hành đúng mục đích, đạt hiệu quả và hiệu suất cao nhất, đồng thời kéo dài được tuổi thọ của nhà tiêu và không gây ảnh đến sức khỏe cũng như môi trường xung quanh. Hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh: Những HGĐ sử dụng nhà tiêu được đánh giá đạt các yêu cầu vệ sinh trong quá trình xây dựng và sử dụng được quy định ở Thông tư số 27/2011/TT-BYT ngày 24/4/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Các mô hình nhà tiêu hợp vệ sinh hiện nay tại Vệt Nam Theo Thông tư số 27/2011/TT-BYT ngày 24/4/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành QCVN 01:2011/BYT. Nội dung ban hành một số quy chuẩn quốc gia về nhà tiêu và điều kiện đảm bảo HVS cho các mô hình nhà tiêu khô chìm, nhà tiêu khô nổi, nhà tiêu thấm dội và nhà tiêu tự hoại.
Nhà tiêu khô chìm là loại nhà tiêu khô, hố chứa phân chìm dưới đất. Nhà tiêu khô nổi là loại nhà tiêu khô, có xây bể chứa phân nổi trên mặt đất. Nhà tiêu tự hoại là nhà tiêu dội nước, bể chứa và xử lý phân kín, nước thải không thấm ra bên ngoài, phân và nước tiểu được lưu giữ trong bể chứa và được xử lý yếm khí trong môi trường nước. Nhà tiêu thấm dội nước là nhà tiêu dội nước, phân và nước trong hố chứa được thấm dần vào đất16, 17.
Tùy theo kỹ thuật xây dựng, mục đích tái sử dụng phân làm phân bón hay để phù hợp vào điều kiện địa hình. Cục Quản lý Môi trường Y tế - Bộ Y tế đã nghiên 5 cứu, đánh giá và đưa ra 16 loại NTHVS được phân thành 02 nhóm liên quan đến việc dùng nước dội16, cụ thể như sau: Nhóm nhà tiêu không dùng nước có 06 loại: Nhà tiêu chìm có ống thông hơi; Nhà tiêu hai ngăn sinh thái; Nhà tiêu hai ngăn sinh thái VinaSanres; Nhà tiêu hai ngăn sinh thái ủ phân bằng năng lượng mặt trời; Nhà tiêu hai ngăn sinh thái ủ phân bằng năng lượng mặt trời có phần trên di động và nhà tiêu ba ngăn ủ phân với rác thải hữu cơ. Nhóm nhà tiêu dùng nước có 10 loại: Nhà tiêu thấm dội nước một ngăn chứa; Nhà tiêu thấm dội nước hai ngăn chứa; Nhà tiêu với bể tự hoại; Nhà tiêu với bể tự hoại có ngăn lọc hiếu khí; Nhà tiêu với bể tự hoại có ngăn lọc kị khí; Nhà tiêu với bể tự hoại có các vách ngăn mỏng dòng hướng lên (BAST); Nhà tiêu vượt lũ với bể tự hoại bằng bê tông cốt thép; Nhà tiêu vượt lũ với bể tự hoại nổi bằng nhựa composit; Nhà tiêu vượt lũ với bể tự hoại nổi bằng nhựa composit có ngăn lọc và bể khí sinh học quy mô HGĐ. Điều kiện vệ sinh đối với các mô hình nhà tiêu hợp vệ sinh Mỗi loại nhà tiêu khác nhau có một số yêu cầu về điều kiện vệ sinh trong xây dựng, cũng như sử dụng khác nhau.
Một nhà tiêu được gọi là HVS thì phải đạt tất cả các yêu cầu về xây dựng, sử dụng (xem bảng kiểm đánh giá phụ lục 2)16, 17. Thực trạng và các yếu tố liên quan xây dựng, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh 1. Thực trạng xây dựng, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh 1. Trên thế giới Theo báo cáo của WHO và UNICEF năm 2017, ước tính đến năm 2015 khoảng 4,4 tỷ (61%) người hiện đang sử dụng các công trình vệ sinh không HVS.
Hiện có khoảng 856 triệu người đang sử dụng nhà tiêu chưa đạt chuẩn HVS và 892 triệu người không sử dụng nhà tiêu trong đó gần hai phần ba số người (558 triệu) sống ở Trung Á và Nam Á, với một phần tư số khác (220 triệu) ở tiểu vùng Châu Phi. Từ năm 2000 đến 2015, khu vực Trung Á và Nam Á có tỷ lệ giảm đại tiện mở từ 53% xuống còn 30%. Khu vực Châu Phi và Cận Sahara đã đạt được mức giảm từ 32% xuống 23%, ở Châu Đại Dương tỷ lệ chỉ có giảm từ 13 xuống 12%. Chỉ có hai 6 vùng được ghi nhận sự gia tăng tình trạng đại tiện mở, tăng từ 204 triệu lên 220 triệu ở châu Phi cận Sahara và từ 1 triệu lên 1,3 triệu ở Châu Đại Dương5.
Tại Ấn Độ, Chính phủ đã xây dựng trên 11 triệu nhà vệ sinh kể từ năm 2014 đến nay. Nhưng hiện vẫn có đến 530 triệu người không sử dụng nhà tiêu HVS, trong đó: Có khoảng hàng chục nghìn HGĐ đã được hỗ trợ xây dựng nhà tiêu nhưng không sử dụng.