CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE CONG DONG NGƯỜI NHẬT, THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGON NGỮ CUA CONG DONG NÀY TẠI VIỆT NAM 1. Tổng quan về cộng đồng người Nhat 1. Quá trình hình thành và phát triển cộng đồng người Nhật tại Việt Nam từ sau Đối mới đến nay. Trước hết, có thé khang định rang sự hình thành cộng đồng người Nhật tại Việt Nam xuất phát từ làn sóng đầu tư của các công ty Nhật vào Việt Nam.
Thời điểm xuất hiện làn sóng này cũng như sự xuất hiện ngày một đa dạng những loại hình công ty Nhật đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam gắn liền với sự hình thành, lớn mạnh của cộng đồng người Nhật ở Việt Nam. Từ những năm 1980 trở đi, đồng Yên tăng giá và thị trường nội địa bão hòa buộc các công ty Nhật phát triển sự nghiệp ra nước ngoài. Trước đó, các công ty lớn đóng vai trò chủ đạo trong việc đầu tư ra nước ngoài nhưng đến những năm 1990, dé đối phó với việc thúc day chuyên dịch ra nước ngoài của các công ty lớn và mở rộng thị trường mới nỗi ở châu A, các công ty vừa và nhỏ gặp khó khăn ở thị trường trong nước cũng có xu hướng đầu tư ra nước ngoài, tìm thị trường cung cấp nhân công giá rẻ và có khả năng tăng trưởng. Tại Việt Nam, năm 1986, khi chính sách đổi mới được đưa vào áp dụng và giải phóng thị trường, các công ty Nhật bat đầu đầu tư vào Việt Nam.
Từ năm 1987, khi Luật đầu tư nước ngoài bắt đầu thực hiện, đến năm 2018, có ba giai đoạn bùng nô về dau tư của doanh nghiệp Nhật Bản vào Việt Nam. Giai đoạn thứ nhất từ 1994 đến 1997. Động lực dẫn đến sự bùng nỗ này là sự kiện Việt Nam bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ và gia nhập ASEAN vào năm 1995. Do mối lo ngại về đồng Yên tăng giá, các công ty chế biến, chế tạo Nhật Bản dịch chuyển sản xuất sang Việt Nam (“Trung Quốc + 1”).
Năm 1994, khu công nghiệp Nomura Hải Phòng thành lập; sau đó, năm 1998, khu công nghiệp Thăng Long đi vào hoạt động. Đỉnh điểm là năm 1995, vốn đầu tư trực tiếp từ dự án mới của Nhật Bản đã vượt hơn 1. Tuy nhiên, năm 1997, đầu tư Nhật Bản giảm sút do khủng hoảng tài chính châu Á. Giai đoạn bùng nỗ thứ hai diễn ra vào những năm 2000, được khởi tạo từ: “Sáng kiến chung Việt-Nhật”, nhằm cải thiện môi trường đầu tư, được hai nước thông qua vào năm 2003.
Dịch SARS năm 2003 và cuộc bạo động phản đối Nhật năm 2004 tại Trung Quốc buộc các công ty Nhật Bản ngừng hoạt động, chuyển hướng đầu tư sang Việt Nam. Những nỗ lực của Việt Nam trong cải tiến môi trường đầu tư đã phát huy tác dụng. Năm 2005 có 107 dự án đầu tư mới, gấp 2 lần so với năm 1995. Sau đó, vào năm 2007, sự kiện Việt Nam gia nhập WTO đã thúc đây các công ty Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam nhiều hơn.
Tuy nhiên đến năm 2008, do chịu ảnh hưởng của sự kiện Lehman, đầu tư có xu hướng giảm (vốn đầu tư của các công ty Nhật Bản chiếm khoảng 10% tổng vốn đầu tư nước ngoài, năm 2009 giảm xuống còn 0,8% trên tổng vốn). Năm 2011 khởi đầu giai đoạn bùng nỗ thứ ba. Điều kiện tạo ra sự bùng nỗ này được cho là việc mở cửa thị trường phân phối và bán hàng trong nước (năm 2009), mở cửa thị trường kinh doanh rượu bia (năm 2010), đồng thời giảm bớt ảnh hưởng của sự kiện Lehman. Trong giai đoạn này, đầu tư của các công ty Nhật Bản quy mô vừa và nhỏ tăng nhanh trong các lĩnh vực chế tạo, bán lẻ, dịch vụ ăn uống.
Tháng 1/2014, tập đoàn bán lẻ AEON mở cơ sở đầu tiên tại TP. Hồ Chí Minh (tháng 10/2015 mở cơ sở ở Hà Nội, tính đến tháng 6/2018, AEON có 6 cơ sở trên toàn quốc). Lãnh thé Việt Nam hình chữ S kéo dài từ Bắc xuống Nam, miền Bắc có đồng băng sông Hồng, miền Nam có đồng bằng sông Mê Kông tạo nên hai mạng lưới kinh tế lớn ở hai miền Bắc-Nam. Thời kỳ đầu, công ty Nhật Bản chủ yếu đầu tư vào miền Nam.
Miền Nam có đô thị lớn như TP.Hồ Chí Minh và cũng là nơi có quy mô kinh tế lớn nhất Việt Nam. Các công ty dét may vừa và nhỏ của Nhật Bản đã đầu tư vào miền Nam dưới mô hình doanh nghiệp chế xuất. Trong khi đó, ở vị trí tiếp giáp với Trung Quốc, miền Bắc có nhiều công ty lắp ráp và chế tạo đầu tư, tạo nên chuỗi cung ứng cho khu vực Hoa Nam (Trung Quốc). Miền Bắc có quy mô kinh tế nhỏ hơn so với miền Nam, công ty Nhật đầu tư vào miền Bắc muộn hơn nên chính phủ Việt Nam đã tích cực thu hút các công ty lớn vào miền Bắc.
Kết quả các công ty lớn như Toyota, Honda, Yamaha, Panasonic và Canon đã có mặt. Đồng thời, các công ty vệ tinh sản xuất phụ tùng xe 6 tô và xe máy cũng đầu tư ngày càng nhiều. Theo kết quả điều tra thực trạng đầu tư nước ngoài do Phòng chính sách, Cục lãnh sự, Bộ ngoại giao Nhật Bản công bố (bản tóm tắt), tại thời điểm 01/10/2017, có 1.816 công ty Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam, tăng 7,6% so với năm trước và tăng 2 lần so với con số 820 công ty năm 2007. Trong bảng xếp hạng theo quốc gia và vùng lãnh thổ, Việt Nam đứng thứ 6 so với năm 2017.
Quan sát sự chuyên biến về số lượng các công ty Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam trong 5 năm qua, chúng ta thấy: - Năm 2011 có 1.081 chi nhánh (vi trí 11), tăng 10,2% so với năm trước; - Năm 2012 có 1.211 chi nhánh (vi trí 8), tăng 12,0%; - Năm 2013 có 1.309 chi nhánh (vi trí 8), tăng 8,1%; - Năm 2014 có 1.452 chi nhánh (vi trí 8), tăng 10,9%; - Năm 2015 có 1.578 chi nhánh (vi trí 7), tăng 8,7%.687 chi nhánh (vi trí 7), tăng 6,9%. Trong số các công ty Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam, có 1.474 công ty là pháp nhân địa phương (821 trụ sở chính, 298 chi nhánh, 296 công ty liên doanh, 59 công ty tư nhân), 323 chi nhánh, văn phòng đại diện, nơi công tác của công ty Nhat Ban (61 chi nhánh, 262 văn phòng đại diện và nơi công tác), 19 chi nhánh không rõ loại hình. Mục đích đầu tư của công ty Nhật Bản vào Việt Nam là xác lập vi tri “Trung Quốc + 1” ở Việt Nam đối với ngành cơ khí và dệt may, trong khi các công ty chế tạo 6 tô, xe máy, công ty chế biến thực phẩm và chế tạo đồ dùng gia đình có xu hướng nhắm vào thị trường nội địa Việt Nam, tận dụng nguén nhân công giá rẻ làm chi nhánh xuất khâu chủ yếu cho khu vực châu A. So với các nước láng giéng, chính trị và an ninh 6n định, hệ thống ưu đãi thuế cộng với cơ sở hạ tang phát triển như sân bay, cảng, đường và cầu tạo ra lợi thế thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Các thông tin này đã được chúng tôi trình bày cụ thê chỉ tiết trong Danh sách các công ty đầu tư vào Việt Nam (Xin xem phụ lục). Đồng hành cùng các công ty là đội ngũ nhân sự đông đảo đến Việt Nam làm việc và sinh sống. Họ là những người làm công tác quản lý, người phụ trách công việc từ khi nhận giấy phép đầu tư, thành lập công ty, xây dựng nhà máy, lắp đặt máy móc, thiết bị dé triển khai sản xuất hàng loạt. Họ còn là những người vợ, người con đi theo chồng/ cha sang Việt Nam công tác.
Họ còn là những sinh viên theo học tại các trung tâm ngôn ngữ hoặc các trường đại học theo nhiều hình thức khác nhau. Theo thống kê của Bộ ngoại giao Nhật Bản, trong vòng 20 năm từ năm 1997 đến năm 2017, số lượng người Nhật tăng 9 lần (không bao gồm những người lưu trú dưới 3 tháng do tính chất hay di chuyên). Năm | Người 1997 | 1913 1998 | 2334 1999 | 2466 2000 | 2585 20000 2001 | 2604 18000 2002 | 2529 2003 | 2698 16000 2004 | 3466 14000 2005 | 3877 2006 4207 12000 2007 | 4754 2008 | 5613 10000 2009 | 7036 8000 2010 | 8543 2011 | 9313 6000 2012 | 11194 4000 2013 | 12254 2014 | 13547 2000 2015 | 14695 0 2016 | 16145 Eg #23 Sz88z§SšB5sšẽ8SŠ=3=°8xz^°ề 2017 | 17266 32 ^23qKãÑã=Ñãmãq&ãẤÑmã=&qãqqãããã&ã&& Biểu 1.1: Số lượng người Nhật lưu trú tại Việt Nam (1997-2017) Nguồn: http://www.jp/mofaj/toko/tokei/hojin/) 1. Đặc điểm cấu thành cộng đồng người Nhật tại Việt Nam Như trên đã phân tích, cộng đồng người Nhật ở Việt Nam hình thành, biến động và phát triển gan liền với làn Sóng đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam, với sự phát triển mạnh mẽ trong quan hệ kinh tế Việt - Nhật.
Thực tế này tạo nên một cộng đồng người Nhật ngày một lớn. Sự phong phú, đa dạng của cộng đồng này được tạo nên bởi những yếu tố như: thời gian, mục đích đến Việt Nam, khối nghề nghiệp, giới tính, tuổi của mỗi thành viên trong cộng đồng. Dưới đây chúng tôi sẽ lần lượt khảo sát những yêu tố này dé có thé cho thấy toàn cảnh của cộng đồng này. Vài nét về Hội doanh nghiệp Nhật Bản Năm 1998, cộng đồng người Nhật ở Hà Nội giữ vị trí chủ chốt trong Hội doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam.
Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản tại các nước có 10 nhiệm vụ hỗ trợ các doanh nghiệp Nhật Bản kinh doanh thuận lợi và tích cực thúc day giao lưu thương mại, kinh tế giữa hai nước. Là tô chức người Nhật duy nhất được công nhận tại Việt Nam, Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản kiêm vai trò của hội người Nhật. Cơ cau tô chức của Hiệp hội doanh nghiệp Nhat Bản tại Việt Nam gồm nhiều ban như Ban đời sống, Ban lễ hội, Ban thê thao văn hóa. Như vậy, ngoài việc hỗ trợ thương mại, Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản Việt Nam còn tổ chức và hỗ trợ các sự kiện liên quan đến cuộc sống của người Nhật tại Hà Nội.
Hiệp hội còn đứng ra thành lập trường Nhật Bản cho con em người Nhật sinh sống tại Việt Nam. Năm 1998, Hiệp hội thành lập Hội phụ nữ Hà Nội. Có thể nói, Hội Phụ nữ là đầu mối cung cấp thông tin cho hội viên và đề cao phương châm xây dựng mỗi quan hệ thân thiết giữa các thành viên. Đến tháng 5 năm 2018, Hội có khoảng 920 hội viên.
Hiện nay, Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam không còn giữ vi trí nòng cốt trong ý thức và hành động của người Nhật.