Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm cơ bản Theo thông tư số 50/2015/TT-BYT đưa ra một số khái niệm về nước ăn uống, nước sinh hoạt, nước thành phẩm và cơ sở cung cấp nước như sau: Nước sinh hoạt là nước sử dụng cho các mục đích sinh hoạt thông thường, không sử dụng để ăn uống trực tiếp hoặc dùng cho chế biến thực phẩm do các cơ sở cung cấp nước cung cấp, bảo đảm chất lượng theo các quy chuẩn kỹ thuật do Bộ Y tế ban hành [21]. Nước thành phẩm là sản phẩm nước đã kết thúc công đoạn cuối cùng của quá trình xử lý nước và được đưa vào mạng lưới đường ống hoặc phương tiện phân phối nước để cung cấp cho tổ chức, cá nhân sử dụng [21]. Cơ sở cung cấp nước là tổ chức, cá nhân thực hiện một phần hoặc tất cả các hoạt động khai thác, sản xuất, kinh doanh, cung cấp nước ăn uống, nước sinh hoạt [21].
Trạm cấp nước sinh hoạt nông thôn là công trình hạ tầng cung cấp nước, có hệ thống phân phối nước (mạng lưới đường ống, trạm xử lý nước, bể chứa, trạm bơm,…) đến khách hàng dùng nước khu vực nông thôn nhằm phục vụ nhu cầu nước để sinh hoạt Nội kiểm là việc thực hiện các quy định đảm bảo vệ sinh, chất lượng nước của cơ sở cung cấp nước do cơ sở cung cấp nước tự thực hiện, bao gồm kiểm tra vệ sinh nơi khai thác nguyên liệu, vệ sinh ngoại cảnh, vệ sinh hệ thống sản xuất nước; xét nghiệm chất lượng nước thành phẩm theo quy định; lập và quản lý hồ sơ theo dõi vệ sinh, chất lượng nước [21]. Ngoại kiểm là kiểm tra việc thực hiện các quy định bảo đảm vệ sinh, chất lượng nước của cơ sở cung cấp nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền trực tiếp thực hiện, bao gồm kiểm tra vệ sinh chung; kiểm tra việc thực hiện chế độ ngoại kiểm; xét nghiệm chất lượng nước thành phẩm [21]. Vai trò của nước đối với sức khỏe con người và ảnh hưởng của chất lượng nước tới sức khỏe Nước là nguồn tài nguyên quý giá nhất toàn cầu, tiếp cận với nước sạch và an toàn, vệ sinh đầy đủ và vệ sinh được cải thiện là rất quan trọng để duy trì sức khỏe và cuộc sống. Theo chiến lược Quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020 của Hội đồng Quốc gia về tài nguyên nước thì tài nguyên nước là thành phần chủ yếu của môi trường sống, là yếu tố đặc biệt quan trọng đảm bảo thực hiện thành công các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, an ninh quốc gia.
Ưu tiên hàng đầu là cung cấp đủ lượng nước, đảm bảo chất lượng. Nước phải được cung cấp đủ số lượng để cho phép vệ sinh đúng cách. Chất lượng nước kém là mối đe dọa lớn đối với sức khỏe con người. Chỉ riêng bệnh tiêu chảy đã chiếm tới 4,1% tổng gánh nặng bệnh tật toàn cầu (DALY) và là nguyên nhân tử vong của 2 triệu người mỗi năm.
Người ta ước tính rằng 88% gánh nặng đó là do cung cấp nước, vệ sinh và vệ sinh không an toàn và chủ yếu tập trung vào trẻ em ở các nước đang phát triển [42]. 17% tổng số ca tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi là do tiêu chảy [45]. Ngoài ra, hơn 50 quốc gia vẫn báo cáo dịch tả cho Tổ chức Y tế thế giới, hàng triệu người tiếp xúc với mức độ không an toàn của asen và fluor tự nhiên có thể gây ung thư và tổn thương răng. Ước tính khoảng 260 triệu người mắc bệnh sán máng [41].
Đây là những bệnh có liên quan đến nước trong việc sử dụng nước không đảm bảo chất lượng vệ sinh ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người sử dụng. Cholerae là nguyên nhân hàng đầu của các bệnh truyền nhiễm qua đường nước Năm 2011, các trường hợp bệnh tả do V. cholerae gây ra đã được báo cáo từ tất cả các khu vực trên thế giới [40]. Tổng cộng có 58 quốc gia báo cáo tổng cộng 589.854 trường hợp với 7816 ca tử vong, tăng tỷ lệ lên 85% so với năm trước.
Sự gia tăng số lượng ca mắc trên toàn cầu so với năm 2010 là kết quả của một vụ dịch lớn ở Haiti mà nguyên nhân của sự bùng nổ dịch có liên quan đến việc tiếp cận hạn chế nước uống an toàn và vệ sinh cơ bản [35]. An toàn và chất lượng nước là nền tảng cho sự phát triển và hạnh phúc của con người. Việc được tiếp cận và sử dụng nước an toàn là một trong những công cụ 6 hiệu quả nhất trong việc thúc đẩy sức khỏe và giảm nghèo [43]. Một bằng chứng ngày càng tăng về cách nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng nước để tối đa hóa lợi ích sức khỏe.
Gần 4% gánh nặng bệnh tật toàn cầu có thể được ngăn chặn bằng cách cải thiện việc cung cấp nước và vệ sinh [35]. Kết quả nghiên cứu của Johri M và cộng sự về ảnh hưởng của chất lượng nước uống được cải thiện đối với sự phát triển của trẻ nhỏ ở vùng nông thôn Uttar Pradesh, Ấn Độ được thực hiện trên 1088 hộ gia đình sử dụng nước từ một nguồn nước cải tiến cho thấy có 442 hộ (40,62%) nhận được nước uống đạt tiêu chuẩn SDG 6. Nguy cơ điều chỉnh thiếu cân ở trẻ em thấp hơn 7,4% (1,3% đến 13,4%) trong số những người uống nước đáp ứng các chỉ tiêu SDG 6.1 so với các biện pháp kiểm soát [37]. Các loại nguồn nước nguyên liệu dùng cho cấp nước * Nguồn nước mặt: Nước mặt là nguồn nước được hình thành trên bề mặt trái đất bao gồm: sông suối, ao hồ, kênh mương… Do có sự kết hợp của các dòng chảy từ nơi cao đến nơi thấp.
Nước mặt có đặc trưng: chứa các khí hòa tan (O2, CO2…), có hàm lượng hữu cơ cao, có độ mặn, có sự xuất hiện của các loài thực vật thủy sinh (tảo, rong) [18]. Khi tiếp xúc, chảy trên mặt đất hay thấm qua đất, đá, nước hòa tan hay cuốn theo các muối vô cơ: sunfat, nitrat, carbonat, clorua và ion canxi, magie, các tạp chất hữu cơ tan, các chất huyền phù, nhũ và rất nhiều chủng loại vi sinh vật, cùng một loạt các tạp chất phân hủy từ các nguồn tự nhiên hay nhân tạo [2]. Nước chảy vào các sông luôn ở trạng thái động, tính động của nó phụ thuộc vào lưu lượng và theo mùa. Ở Việt Nam, lưu lượng giữa mùa mưa và mùa khô khác biệt có thể tới trăm lần.
Thành phần tạp chất trong nước phụ thuộc vào lưu lượng dòng chảy, thường là thấp khi lưu lượng dòng lớn. Nước chảy qua các vùng chứa nhiều đất đá có tính thấm kém thì nước đục và mềm do các hạt mịn (vô cơ, hữu cơ) bị cuốn theo và khó sa lắng. Vùng lưu vực nước chứa nhiều đá vôi, đá phấn thì nước trong và cứng. Nước chảy qua các vùng đồi trọc không cây cối thì đất đá bị rửa trôi, cuốn theo hầu hết các thành phần trong đất; qua rừng rậm thì nước trong và chứa nhiều chất hữu cơ tan [2].
7 Nước kênh mương nội đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp, chủ yếu cho cây lúa nên nó luôn tiếp xúc với phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chứa nhiều tạp chất hữu cơ phân hủy từ thực vật. Mặt khác, nước mương nội đồng còn dễ bị ô nhiễm bởi phân, chất bài tiết của các loại gia cầm, gia súc, thậm chí cả với các nguồn phân hữu cơ, rác thải sinh hoạt. Đó là nguồn nước không thích hợp cho mục đích cấp cho nước sinh hoạt [2]. Nước bề mặt trong các ao hồ, hồ thủy lợi, đầm là loại nước lặng được bổ sung thêm và chảy ra ngoài nên về nguyên tắc được coi là nguồn nước có dòng chảy chậm, thời gian lưu trữ lớn.
Những nguồn nước như vậy có độ đục thấp và do quá trình vi sinh, quang hóa nên hàm lượng các chất hữu cơ thường là nhỏ, thích hợp cho mục đích sử dụng làm nguồn nước sinh hoạt. Tuy vậy, các nguồn nước này thuận lợi cho sự phát triển của các loài thủy thực vật như rong, rêu, tảo. Sự thay đổi mạnh của pH trong nước ảnh hưởng bất lợi đến hiệu quả của công nghệ xử lý nước, giảm hiệu quả của quá trình keo tụ [2]. Đặc điểm nổi bật khác của nước mặt là chứa rất ít kim loại nặng (mangan, asen, sắt.) amoni, nitrit do hàm lượng oxy và thế oxy hóa khử trong nguồn nước cao, là điều kiện không thuận lợi cho sự tồn tại của các thành phần trên khi nguồn nước không (ít) bị ô nhiễm bởi các nguồn nhân tạo.
Nhìn chung, khả năng tự làm sạch của nguồn nước mặt trong điều kiện khí hậu của Việt Nam là cao, tạo ra chất lượng đáp ứng cho nhu cầu nước sinh hoạt nếu có biện pháp hữu hiệu bảo vệ nguồn nước. Tuy nhiên, nguồn nước mặt dễ bị ô nhiễm bởi các nguồn nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp và các nguồn thải rắn khác [2]. * Nguồn nước ngầm: Là nguồn nước được khai thác từ các tầng chứa nằm dưới mặt đất. Chất lượng nước ngầm phụ thuộc vào cấu trúc địa tầng mà nước thấm qua.
Nước ngầm có đặc trưng: Độ đục thấp, nhiệt độ và thành phần hóa học ổn định, nước thiếu khí O2 nhưng chứa nhiều khí H2S, CO2. chứa nhiều chất khoáng hòa tan, đặc biệt là sắt, mangan, flouor [18]. Chất lượng nước ngầm phụ thuộc vào một loạt các yếu tố: chất lượng nước mưa, tuổi của nước trong lòng đất, bản chất lớp đất đá nước thấm qua, bản chất lớp 8 đá chứa tầng nước. Thông thường, nước ngầm chứa ít tạp chất hữu cơ, ít vi sinh và giàu thành phần vô cơ như canxi, magie, natri, kali, sắt, mangan, carbonat, bicarbonat, sunfat, clorua.
Nước ngầm trong vùng đá vôi, đá phấn chứa nhiều canxi, bicarbonat; trong vùng đá dolomit (hỗn hợp magie và canxi carbonat) chứa nhiều magie bicarbonat. Tầng nước trong vùng đá sa thạch, cát két, chứa nhiều NaCl, tầng trong vùng đá granit chứa nhiều sắt, mangan. Nước ngầm vùng ven đô thị, đặc biệt có nguồn nước thải chảy qua, nơi chôn cất rác chứa nhiều các tạp chất là sản phẩm phân hủy của quá trình vi sinh: nitrit, amoniac, nitrat, hydro sunfua, phosphat. Nước ngầm ở khu vực lân cận khu vực công nghiệp chứa các tạp chất do quá trình sản xuất thải ra.
So với nước mặt, nồng độ của các ion (độ dẫn điện) trong nước ngầm cao hơn và tăng cùng độ sâu của nguồn nước do các nguồn nước sâu ít được nạp thêm nước mới và do thời gian tiếp xúc lâu với đất đá tạo điều kiện hòa tan các khoáng vật trong tầng.