CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm và vai trò của dịch vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại. Khái niệm của dịch vụ thanh toán quốc tế Theo PGT. Tạ Văn Lợi (2022), Giáo trình Nghiệp vụ Ngoại thương, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân: “TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, có thể thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan.” Dịch vụ thanh toán quốc tế là việc một cá nhân/tổ chức uỷ quyền cho đơn vị trung gian thay mặt họ trả tiền cho các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ tại nước ngoài.
Người mua hàng sẽ không trực tiếp thanh toán cho nhà cung cấp hoặc đối tác, mà việc trả tiền sẽ được thực hiện qua một bên khác. Dịch vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại là một trong những dịch vụ thiết yếu của NHTM. Trong đó, ngân hàng đóng vai trò là trung gian thanh toán giữa các cá nhân hay tổ chức của nước này với cá nhân hay tổ chức của nước khác. Kinh doanh dịch vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại là hoạt động ngân hàng thương mại cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng liên quan đến giao dịch thanh toán giữa các quốc gia.
Mục tiêu của hoạt động này là hỗ trợ khách hàng, bao gồm cá nhân và doanh nghiệp, trong việc thực hiện các giao dịch thương mại và tài chính quốc tế một cách an toàn, hiệu quả và nhanh chóng. Hiện nay, với sự mở rộng không ngừng của các hoạt động thương mại và sự phát triển ngày càng sâu rộng trong quan hệ giữa các quốc gia, dịch vụ TTQT cũng cần được hoàn thiện hơn để đáp ứng những yêu cầu của sự phát triển đó. Các phương thức thanh toán quốc tế phổ biến 1. Phương thức chuyển tiền * Khái niệm: Theo PGS.Tạ Văn Lợi (2019): “Chuyển tiền là phương thức thanh toán mà ở đó bên mua yêu cầu ngân hàng phía mình chuyển một số tiền nhất định cho bên bán ở một địa điểm 4 cụ thể.
Ngân hàng chuyển tiền phải nhờ qua đại lý của mình ở nước ngoài hưởng lợi để thực hiện nghĩa vụ chuyển tiền” Chuyển tiền là phương thức thanh toán đơn giản, trong đó, người chuyển tiền và người nhận tiền tiến hành thanh toán với nhau. Ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán theo ủy nhiệm để hưởng phí mà không bị ràng buộc bất cứ trách nhiệm gì đối với người chuyển tiền và người thụ hưởng. * Quy trình thanh toán theo phương thức chuyển tiền Hình 1.1: Quy trình nghiệp vụ Chuyển tiền Nguồn: Giáo trình Nghiệp vụ Ngoại thương (2019); PGS.Tạ Văn Lợi, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Theo PGS.Tạ Văn Lợi (2019,230): “Trình tự tiến hành chuyển tiền: (1) Quan hệ hợp đồng, giao dịch, người bán hoàn thành nghĩa vụ với người mua. (2) Người NK yêu cầu ngân hàng của mình trả tiền cho người bán (bằng thư chuyển tiền, hay bằng điện chuyển tiền) (3) Chuyển tiền ra nước ngoài qua ngân hàng (4) Ngân hàng chuyển tiền cho người hưởng lợi.” * Rủi ro có thể xảy ra khi sử dụng phương thức chuyển tiền: - Trong phương thức chuyển tiền, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian và không thể can thiệp vào ý muốn thanh toán của người mua.
5 - Bên nhập khẩu có nguy cơ gặp rủi ro khi thanh toán trước nhưng không nhận được hàng đúng như hợp đồng, gây thiệt hại cho họ. - Bên xuất khẩu có thể gặp bất lợi nếu bên nhập khẩu lựa chọn thanh toán sau, trong trường hợp bên nhập khẩu đã nhận hàng nhưng không trả tiền hoặc từ chối nhận hàng do biến động giá cả. - Ngân hàng phục vụ người mua có thể đối mặt với rủi ro khó đòi được nợ khi ngân hàng cho bên mua vay để thanh toán, trong trường hợp bên mua bị thiệt hại vì hàng hóa nhận được không đạt tiêu chuẩn hoặc sai lệch với hợp đồng. - Ngân hàng phục vụ người bán cũng có nguy cơ mất vốn khi hỗ trợ vay vốn để lưu thông hàng hóa nhưng người bán lại không thu hồi được tiền hàng.
Phương thức nhờ thu * Khái niệm Theo PGS.Tạ Văn Lợi (2019): “Nhờ thu là phương thức thanh toán quốc tế, ở đó người bán khi thực hiện xong trách nhiệm chuyển hàng hoặc cung cấp dịch vụ tiến hành ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình đưa ra bộ chứng từ thôn qua ngân hàng thu hộ cho bên mua để được thanh toán, đồng ý với hối phiếu hay đồng ý với điều kiện và điều khoản khác.” Có 2 loại hình thức nhờ thu là: Nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ. a/ Nhờ thu trơn, Theo PGS.Tạ Văn Lợi (2019): “Là phương thức thanh toán, mà ở đó chứng từ nhờ thu chỉ bao gồm các chứng từ tài chính (hối phiếu, kỳ phiếu, séc, giấy nhận nợ hay công cụ thanh toán khác), còn có chứng từ thương mại (chứng từ vận tải, hoá đơn, bảo hiểm,.) không đi qua ngân hàng mà được giao luôn cho người mua.” * Quy trình thanh toán theo phương thức nhờ thu trơn 6 Hình 1.2: Quy trình nghiệp vụ Nhờ thu trơn Nguồn: Giáo trình Nghiệp vụ Ngoại thương (2019); PGS.Tạ Văn Lợi, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Theo PGS.Tạ Văn Lợi (2019,234): “Nội dung thứ tự các nghiệp vụ như sau: (1) Người bán sau khi gửi hàng và chứng từ hàng cho người mua, lập một hối phiếu đòi tiền người mua và ủy thác cho ngân hàng của mình đòi tiền hộ. (2) Ngân hàng phục vụ bên bán gửi ủy nhiệm thu kèm hối phiếu cho ngân hàng đại lý của mình ở nước người mua nhờ thu tiền hộ. (4) Ngân hàng đại lý chuyển tiền thu được cho người bán, nếu chỉ là chấp nhận hối phiếu thì ngân hàng gửi hối phiếu hoặc chuyển lại cho người bán.
Khi đến hạn thanh toán, ngân hàng sẽ đòi tiền ở người mua và thực hiện việc chuyển tiền như trên.” Trong phương thức nhờ thu trơn, không có sự ràng buộc giữa việc thanh toán và nhận hàng, dẫn đến quyền lợi của bên bán không được đảm bảo. Người mua có thể nhận hàng mà không thanh toán hoặc thanh toán chậm so với hợp đồng đã ký kết. Do đó, phương thức này chỉ phù hợp trong các trường hợp người bán và người mua có mối quan hệ lâu dài, đủ mức độ tin cậy, hoặc có sự hợp tác kinh doanh chung, hoặc để thanh toán cho các dịch vụ liên quan đến XNK hàng hóa như cước vận chuyển, phí bảo hiểm,… 7 b) Nhờ thu kèm chứng từ, Theo PGS.Tạ Văn Lợi (2019): “Là phương thức thanh toán mà ở đó bên xuất khẩu giao trách nhiệm thu tiền hộ cho Ngân hàng ở bên nhập khẩu không chỉ căn cứ vào hồi phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ lô hàng theo cùng với ràng buộc nếu người nhập khâu thanh toán tiền hoặc đồng ý thanh toán (đối với hối phiếu có kì hạn) sẽ đưa bộ chứng từ cho người nhập khẩu lấy hàng.” * Quy trình thanh toán theo phương thức nhờ thu kèm chứng từ Hình 1.3 : Quy trình nghiệp vụ Nhờ thu kèm chứng từ Nguồn: Giáo trình Nghiệp vụ Ngoại thương (2019); PGS.Tạ Văn Lợi, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Theo PGS.Tạ Văn Lợi (2019,236): “Nội dung thứ tự các nghiệp vụ như sau: (1) Người xuất khẩu sau khi giao hàng cho người nhập khẩu (theo hợp đồng) lập bộ chứng từ thanh toán (gồm có chứng từ hàng hóa và hối phiếu) gửi tới ngân hàng phục vụ mình nhờ thu hộ tiền. (2) Ngân hàng bên xuất khẩu chuyển toàn bộ chứng từ hàng hóa và nhờ thu sang ngân hàng bên người nhập khẩu, để nhờ thu tiền.
(3) Ngân hàng bên nhập khẩu yêu cầu người nhập khẩu trả tiền hối phiếu để nhận chứng từ. Nếu người nhập khẩu nhất trí trả tiền thì ngân hàng mới trao chứng từ. Nếu họ từ chối trả tiền thì ngân hàng cầm giữ chứng từ lại và báo cho ngân hàng bên xuất khẩu biết. (4) Ngân hàng bên nhập khẩu chuyển trả tiền (hoặc hoàn lại hối phiếu bị từ chối thanh toán) cho ngân hàng bên người xuất khẩu.
8 (5) Ngân hàng bên người xuất khẩu chuyển trả tiền (hoặc hoàn lại hối phiếu bị từ chối) cho người xuất khẩu.” So với phương thức nhờ thu trơn, phương thức nhờ thu kèm chứng từ có lợi thế hơn nhờ việc kiểm soát thông qua bộ chứng từ, từ đó đảm bảo quyền lợi tốt hơn cho người bán. Tuy nhiên, vẫn tồn tại rủi ro như việc kiểm soát bộ chứng từ chỉ giúp người bán nắm giữ lô hàng mà không đảm bảo người mua sẽ thanh toán. Người mua có thể trì hoãn việc trả tiền. Với phương thức này, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian và không chịu trách nhiệm về việc thanh toán của người mua.
Phương thức thanh toán thư tín dụng chứng từ * Khái niệm Theo PGS.Tạ Văn Lợi (2019): “Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán mà ở đó ngân hàng mở thư tín dụng theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng), thỏa thuận sẽ thanh toán một khoản tiền xác định cho người thứ ba (người hưởng lợi số tiền từ thư tín dụng), hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ ba ký phát trong phạm vi số tiền đó, người thứ ba đưa ra cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán đúng với quy định đề ra trong thư tín dụng chứng từ”. * Quy trình thanh toán theo phương thức thư tín dụng chứng từ Hình 1.4: Quy trình nghiệp vụ Thư tín dụng chứng từ Nguồn: Giáo trình Nghiệp vụ Ngoại thương (2019); PGS.Tạ Văn Lợi, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Theo PGS.Tạ Văn Lợi (2019,238): 9 “Trình tự thanh toán thư tín dụng chứng từ như sau: (1) Người nhập khẩu mở thư tín dụng trả cho người xuất khẩu qua ngân hàng của mình hoặc ngân hàng khác theo thỏa thuận trong thời hạn nhất định, trong đó liệt kê các chứng từ phải có. (4) Người xuất khẩu kiểm tra nội dung thư tín dụng, nếu chấp nhận thì giao hàng. Nếu không thì yêu cầu ngân hàng mở thư tín dụng điều chỉnh cho phù hợp hợp đồng.
(5) Người xuất khẩu giao hàng, lập bộ chứng từ gửi ngân hàng mở thư tín dụng xin thanh toán. (6) Ngân hàng mở thư tín dụng kiểm tra: phù hợp thì thanh toán, không phù hợp thì không thanh toán, trả lại người xuất khẩu.