CHƯƠNG 1 ẢO HÓA VÀ ẢO HÓA MẠNG TRUNG TÂM DỮ LIỆU Trong chương đầu tiên, tác giả sẽ trình bày tổng quan về công nghệ ảo hóa bao gồm định nghĩa, lợi ích của ảo hóa và một số loại ảo hóa. Tiếp theo đó, tác giả trình bày một số khái niệm trong ảo hóa mạng trung tâm dữ liệu và giới thiệu một số dự án nghiên cứu ảo hóa mạng trung tâm dữ liệu.1 Tổng quan về ảo hóa Theo Cisco tại [5], ảo hóa là công nghệ cho phép tạo ra các phiên bản ảo mang tính logic của một tài nguyên vật lý nào đó có thể là các ứng dụng, hệ điều hành, máy chủ, hệ thống lưu trữ, thiết bị mạng hoặc mạng máy tính. Với công nghệ ảo hóa, các vấn đề về năng suất hoạt động của hệ thống được cải thiện một cách đáng kể. Không những vậy chi phí duy trì cơ sở hạ tầng cũng được giảm thiểu.
Rất nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp có thiết bị cũ từ những năm trước khi công nghệ máy tính phát triển mạnh được thiết kế để mỗi thiết bị chỉ có thể chạy một hệ điều hành và một ứng dụng trong một phiên làm việc dẫn đến việc một trung tâm dữ liệu phải có nhiều server hoặc máy chủ chạy những dịch vụ khác nhau mà chỉ tiêu tốn khoảng 10% công suất của từng máy, gây ra lãng phí và không hiệu quả trong việc quản lí tài nguyên cũng như không sử dụng hết được nguồn lực tài nguyên của hệ thống. Ngoài việc tiết kiệm được chi phí thì công nghệ ảo hóa còn giúp việc sửa chữa hệ thống cũng như cài đặt được thực hiện một cách nhanh chóng. Thay vì phải thay thế toàn bộ thiết bị phần cứng, giờ đây chúng ta chỉ cần thay đổi một máy ảo một cách dễ dàng và nhanh chóng, tránh trường hợp phải ngưng dịch vụ vì sửa chữa phần cứng và gây thiệt hại về doanh thu cho doanh nghiệp. Ngoài ra ảo hóa còn có các tác dụng như: - Bảo vệ an toàn dữ liệu: giải pháp ảo hóa giúp cho việc sao lưu dữ liệu, khôi phục được những dữ liệu một cách nhanh chóng và an toàn nhất, không ảnh hưởng đến người dùng.
- Tính sẵn sàng cao: Một nhà cung cấp dịch vụ hạ tầng mạng luôn phải đảm bảo cho hệ thống hoạt động một cách liên tục và ổn định nhất có thể, vì mỗi 5 khi hệ thống gặp sự cố sẽ gây ảnh hưởng rất nhiều đến người sử dụng và gây thiệt hại về mặt kinh tế cũng như uy tín của nhà doanh nghiệp. Công nghệ ảo hóa cung cấp khả năng sẵn sàng cao cho hệ thống với sự độc lập trong hoạt động của phần cứng cũng như phần mềm. Giảm thời gian chết giữa mỗi lần sửa chữa thay đổi hệ thống, dễ dàng di chuyển máy ảo từ máy vậy lí này sang máy vật lí khác mà không gây ra gián đoạn hệ thống. - Tính năng phòng chống sự cố: Các doanh nghiệp sẽ luôn gặp những tổn thất lớn về mặt kinh tế, dữ liệu lưu trữ có thể bị mất.
Để phòng chống lại điều đó, các doanh nghiệp sử dụng giải pháp ảo hóa như một phương pháp hữu hiệu nhất với các tính năng vượt trội như phục hồi nhanh do ảo hóa giúp dễ dàng copy, tạo các clone cho tài nguyên hệ thống nên thời gian hồi phục được cải thiện một cách tối đa. Không những vậy, hệ thống luôn sẵn sàng và có được độ tin cậy cao hơn so với những giải pháp khác.1: Một số loại ảo hóa [5] 6 Trong phần này giới thiệu 4 loại ảo hóa gồm ảo hóa máy chủ, ảo hóa lưu trữ, ảo hóa mạng và ảo hóa dịch vụ.1 thể hiện 4 loại ảo hóa có thể tồn tại trong trung tâm dữ liệu và được quản lý sử dụng công cụ quản lý ảo hóa. Có thể có nhiều loại khác nhưng đây là các công nghệ ảo hóa khởi đầu của ảo hóa trong trung tâm dữ liệu. Quản lý ảo hóa đề cập đến việc cung cấp điều phối, phân bổ các tài nguyên ảo hóa, cũng như quản lý thời gian chạy của các nhóm tài nguyên và các cá thể ảo.
Tính năng này bao gồm ánh xạ tĩnh và động của các tài nguyên ảo cho các tài nguyên vật lý, các khả năng quản lý tổng thể như dung lượng, công cụ phân tích, thanh toán và quản lý thỏa thuận cấp độ dịch vụ (SLA).1 Ảo hóa máy chủ Hình 1.2: Sự khác nhau giữa máy chủ vật lý được ảo hóa và máy chủ vật lý thường Ảo hóa máy chủ là ứng dụng được biết đến nhiều nhất của ảo hóa phần cứng ngày nay. Kiến trúc phần cứng x86 được thiết kế để chạy một hệ điều hành và một ứng dụng duy nhất, điều này khiến cho hầu hết các máy tính đều không được tận dụng. Ảo hóa cho phép chạy nhiều máy tính ảo trên một máy chủ vật lý, chia sẻ các tài nguyên của một máy tính đơn lẻ. Các máy ảo có thể chạy các hệ điều hành khác nhau 7 và nhiều ứng dụng chạy trên cùng một máy tính vật lý.2 cho thấy sự khác nhau giữa một máy chủ ảo hóa và một máy chủ không được ảo hóa [5].
Có những phần mềm quen thuộc để tạo ra các máy ảo (Virtual machine - VM) trên máy tính như VMWare, VirtualBox hay Virtual PC, VMWare Fusion, … và cách cài đặt các chương trình này cũng rất đơn giản. Tuy nhiên, mỗi máy ảo này hoạt động như một máy vật lí nên cũng tiêu tốn tài nguyên sử dụng RAM, CPU hay bộ nhớ, vậy nên tùy từng máy vật lí có cấu hình tốt, đảm bảo đủ chia cho các máy ảo thì nên cài, nếu không máy vật lí sẽ không thể đáp ứng yêu cầu cho các máy ảo chạy cùng một lúc.3: Sự khác nhau giữa ảo hóa phần mềm và ảo hóa phần cứng Như đã tìm hiểu ở phần trên đó là ảo hóa hệ điều hành tạo ra những hệ điều hành mới, đó là ảo hóa phần mềm. Ngoài ra, còn có một cách ảo hóa chính thiết bị phần cứng như RAM, CPU hay bộ nhớ lưu trữ, đó là công nghệ Hypervisor - ảo hóa phần cứng. Phần mềm hypervisor cho phép tạo máy ảo mô phỏng một máy tính vật lý bằng cách tạo ra một môi trường hệ điều hành riêng biệt được phân tách về mặt logic với máy chủ.
Hypervisor cũng được gọi là bộ quản lý máy ảo, là một chương trình cho phép nhiều hệ điều hành chia sẻ một máy chủ vật lý. VM được lưu trữ như một tệp, vì thế việc khôi phục một hệ thống bị lỗi có thể đơn giản như việc sao chép tệp lên một máy mới. Điểm khác biệt lớn nhất giữa ảo hóa phần cứng và ảo hóa phần mềm đó là, với ảo hóa phần mềm chúng ta cần biết trước máy ảo đó sẽ chạy hệ điều hành 8 nào và cần tiêu tốn bao nhiêu tài nguyên cho hệ điều hành đó cộng với máy tính cài đặt máy ảo phải có sẵn một hệ điều hành trước. Trong khi Hypervisor thì khác, nó không cần có hệ điều hành mà nó chạy trực tiếp trên các thiết bị phần cứng.
Sự khác nhau giữa ảo hóa phần mềm và ảo hóa phần cứng được minh họa bởi hình 1. Lợi ích của ảo hóa máy chủ [5]: - Phân vùng: chạy nhiều hệ điều hành trên một máy chủ vật lý, chia sẻ tài nguyên vật lý của hệ thống giữa các VM, tách biệt giữa các VM. - Quản lý: lỗi của một VM không ảnh hưởng đến các VM khác, các tác nhân quản lý có thể chạy trên mỗi VM riêng biệt để xác định hiệu năng của VM và của các ứng dụng đang chạy trên VM - Đóng gói: toàn bộ VM có thể lưu thành một file, di chuyển và sao chép thông tin VM đơn giản như sao chép các tệp - Linh động: cho phép cung cấp và di chuyển bất kỳ VM nào tới một máy tương tự trên bất kỳ máy chủ vật lý nào, sử dụng nhiều nền tảng hệ điều hành như Windows, Linux Ảo hóa máy chủ là chìa khóa trong việc giảm số lượng máy chủ vật lý, không gian vật lý, hệ thống làm mát, cáp kết nối và chi phí đầu tư trong bất kỳ dự án trung tâm dữ liệu nào.2 Ảo hóa lưu trữ Ảo hóa lưu trữ đề cập đến việc cung cấp một cái nhìn logic, trừu tượng của các thiết bị lưu trữ vật lý. Nó cung cấp một phương pháp cho nhiều user hoặc ứng dụng truy nhập bộ nhớ mà không quan tâm đến việc bộ nhớ được đặt ở đâu, được quản lý như thế nào.
Nó cho phép hệ thống lưu trữ vật lý được chia sẻ bởi nhiều máy chủ ứng dụng, và các thiết bị vật lý phía sau lớp ảo hóa được xem và quản lý như thể chúng là một kho lưu trữ lớn không có ranh giới vật lý. Ảo hóa lưu trữ che đi thực tế rằng có các thiết bị lưu trữ riêng biệt trong một tổ chức bằng cách làm cho tất cả các thiết bị xuất hiện dưới dạng một thiết bị. Ảo hóa ẩn đi quá trình phức tạp của việc lưu dữ liệu cần được lưu trữ ở đâu và đưa nó trở lại và thể hiện nó cho người dùng khi nó được yêu cầu. Thông thường, ảo hóa lưu trữ áp dụng cho các mảng mạng lưu trữ SAN 9 lớn hơn nhưng nó cũng được áp dụng để phân vùng logic cho ổ cứng máy tính cục bộ và ổ cứng dự phòng độc lập (RAID).
Ảo hóa hệ thống lưu trữ có thể chia làm 3 dạng sau đây: - Storage – deviced based: Phần mềm ảo hóa sẽ giao tiếp trực tiếp với phần cứng, mô hình ảo hóa này cho phép truy suất tới ổ cứng nhanh nhất có thể, tuy nhiên cách cài đặt và cấu hình tương đối khó khăn và phức tạp. Dịch vụ ảo hóa cũng cấp cho các server được thông qua một thiết bị chuyên dụng điều khiển gọi là Primary Storage Controller. - Network-based: Ở mô hình ảo hóa này, công việc ảo sẽ được thực hiện trên một thiết bị mạng (switch, router hoặc máy chủ). Các switch hay máy chủ này kết nối trực tiếp với các mạng lưu trữ dữ liệu (SAN).
Mô hình này được ứng dụng nhiều ở thực tế - Host-based: Trong mô hình này, một driver điều khiển được đặt giữa lớp ảo hóa và ổ đĩa vật lí. Các phần mềm ảo hóa truy xuất tài nguyên hệ thống qua sử điều khiển hoạt động của lớp driver. Lợi ích của ảo hóa lưu trữ [5]: - Tối ưu tài nguyên: trước đây, thiết bị lưu trữ được gắn và dành riêng cho các máy chủ và ứng dụng. Nếu cần nhiều dung lượng hơn, nhiều đĩa được mua và được thêm vào máy chủ và được dành riêng cho các ứng dụng.