Thiết kế và thử nghiệm tính năng bê tông sợi polypropylene cấp độ bền B20

Tìm hiểu thiết kế, thử nghiệm bê tông sợi Polypropylene B20. Khám phá quy trình tạo ra vật liệu bền vững, nâng cao hiệu suất công trình.

Trường đại học

Đại học Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

76
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh bê tông sợi polypropylene B20 Vật liệu mới

Bê tông là loại vật liệu xây dựng phổ biến nhất, tuy nhiên lại tồn tại những hạn chế cố hữu về khả năng chịu kéo và tính dễ nứt. Để giải quyết vấn đề này, bê tông cốt sợi polypropylene (PPFRC) đã ra đời như một giải pháp vật liệu xây dựng mới, mang lại nhiều cải tiến đáng kể. Bằng cách phân tán các sợi vi tổng hợp polypropylene vào hỗn hợp bê tông truyền thống, vật liệu mới này không chỉ kế thừa khả năng chịu nén tốt mà còn được tăng cường đáng kể về độ dẻo dai, khả năng kiểm soát nứt và độ bền lâu dài. Nghiên cứu về bê tông sợi PP tập trung vào việc tối ưu hóa các thành phần để đạt được tính năng cơ học của bê tông một cách hiệu quả nhất, đặc biệt là với cấp độ bền B20 (tương đương mác bê tông 250), một cấp độ bền được ứng dụng rộng rãi trong các công trình dân dụng và công nghiệp. Việc bổ sung sợi PP vào bê tông hoạt động như một hệ thống cốt thép vi mô, phân bố ngẫu nhiên và đa hướng, giúp bắc cầu qua các vết nứt vi mô ngay khi chúng bắt đầu hình thành, từ đó ngăn chặn sự phát triển và lan rộng của chúng. Điều này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc cải thiện tuổi thọ và độ an toàn của kết cấu, đặc biệt trong các điều kiện môi trường khắc nghiệt hoặc chịu tải trọng động. Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng, việc sử dụng sợi PP giúp giảm thiểu đáng kể độ co ngót của bê tông trong quá trình đóng rắn, một trong những nguyên nhân chính gây nứt bề mặt.

1.1. Giới thiệu về bê tông gia cường sợi polypropylene PP

Bê tông sử dụng sợi gia cường polypropylene là một dạng vật liệu composite, trong đó các sợi polypropylene ngắn, rời rạc được phân tán đồng đều trong hỗn hợp bê tông xi măng. Sợi PP, một loại sợi vi tổng hợp, có đặc tính nổi bật như tỷ trọng thấp, kháng hóa chất tốt, không hút nước và có mô đun đàn hồi cao. Theo tài liệu nghiên cứu, sợi PP được sản xuất thông qua việc thêm các phụ gia cho bê tông chức năng, nóng chảy nhựa, ép đùn và xử lý bề mặt đặc biệt. Khi được thêm vào bê tông, chúng hoạt động như một hệ thống cốt thép ba chiều, giúp kiểm soát các vết nứt do co ngót dẻo và co ngót khô, đồng thời cải thiện khả năng chống va đập và mài mòn của bê tông. Các nghiên cứu của Peng Zhang và Li đã chỉ ra rằng sợi PP cải thiện rất nhiều độ bền và kiểm soát vết nứt một cách hiệu quả, làm chậm quá trình mở rộng vết nứt. Đây là một giải pháp gia cường bê tông hiệu quả, kinh tế và dễ thi công so với các phương pháp truyền thống.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu với cấp độ bền B20 mác 250

Mục tiêu chính của nghiên cứu là thiết kế, thử nghiệm và đánh giá các tính năng cơ bản của bê tông sử dụng sợi gia cường polypropylene có cấp độ bền B20. Cấp độ bền B20, tương đương mác bê tông 250, là một trong những loại bê tông được sử dụng phổ biến nhất trong xây dựng dân dụng tại Việt Nam. Nghiên cứu tập trung vào việc xác định một cấp phối bê tông B20 hợp lý có sử dụng sợi PP, đồng thời đánh giá ảnh hưởng của hàm lượng sợi polypropylene khác nhau đến các đặc tính quan trọng. Cụ thể, các chỉ tiêu được khảo sát bao gồm tính công tác của bê tông (thông qua độ sụt bê tông), cường độ chịu nén và đặc biệt là cường độ chịu uốn – một chỉ số phản ánh trực tiếp khả năng chống nứt của vật liệu. Kết quả của nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học để đánh giá khả năng ứng dụng thực tiễn của loại vật liệu này, góp phần vào việc phát triển các vật liệu xây dựng mới bền vững và hiệu quả hơn tại Việt Nam.

II. Thách thức lớn Nứt và co ngót của bê tông mác 250

Bê tông truyền thống, mặc dù có cường độ chịu nén tốt, lại bộc lộ điểm yếu cố hữu là khả năng chịu kéo rất kém, chỉ bằng khoảng 5-10% cường độ chịu nén. Hạn chế này dẫn đến một vấn đề phổ biến và nan giải trong xây dựng: hiện tượng nứt. Các vết nứt có thể xuất hiện ngay trong 24 giờ đầu sau khi đổ do co ngót dẻo, hoặc phát triển theo thời gian do co ngót khô và sự thay đổi nhiệt độ. Đối với bê tông B20 (hay mác bê tông 250), những vết nứt này không chỉ làm mất thẩm mỹ bề mặt mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính toàn vẹn của kết cấu. Chúng tạo ra những đường dẫn cho các tác nhân xâm thực như nước, ion clorua, sunfat... xâm nhập vào bên trong, gây ăn mòn cốt thép và làm suy giảm tuổi thọ công trình. Việc kiểm soát khả năng chống nứtđộ co ngót của bê tông là một thách thức lớn. Các phương pháp truyền thống như sử dụng lưới thép chống nứt bề mặt thường tốn kém, mất thời gian thi công và đôi khi không hiệu quả trong việc kiểm soát các vết nứt vi mô. Do đó, việc tìm kiếm một giải pháp gia cường bê tông hiệu quả hơn, có khả năng kiểm soát nứt từ bên trong cấu trúc vật liệu, là một yêu cầu cấp thiết trong ngành xây dựng hiện đại.

2.1. Phân tích nguyên nhân gây nứt do độ co ngót của bê tông

Hiện tượng co ngót là nguyên nhân chính gây nứt trong bê tông. Quá trình này xảy ra do sự mất nước trong các gel đá xi măng và sự giảm thể tích của hệ xi măng - nước trong quá trình thủy hóa. Khi bê tông bị co ngót, các ứng suất kéo nội tại sẽ phát sinh trong cấu trúc. Do cường độ chịu uốn và chịu kéo của bê tông rất thấp, khi các ứng suất này vượt quá giới hạn chịu đựng của vật liệu, các vết nứt sẽ hình thành. Tài liệu nghiên cứu chỉ rõ, co ngót trong thời gian đầu (co ngót dẻo) xảy ra khi bê tông còn ở trạng thái tươi, do tốc độ bay hơi nước trên bề mặt nhanh hơn tốc độ nước mao dẫn trồi lên. Co ngót về lâu dài (co ngót khô) là kết quả của việc mất nước từ từ ra môi trường xung quanh. Cả hai quá trình này đều làm suy giảm chất lượng bê tông, đặc biệt với các kết cấu có diện tích bề mặt lớn như sàn, mái, mặt đường.

2.2. Hạn chế về tính năng cơ học của bê tông truyền thống

Ngoài khả năng chịu kéo kém, tính năng cơ học của bê tông truyền thống còn có một hạn chế khác là tính giòn. Khi chịu tải trọng đến ngưỡng phá hoại, bê tông thường bị phá hủy một cách đột ngột mà không có dấu hiệu cảnh báo rõ ràng. Việc thiếu độ dẻo dai này làm giảm khả năng chịu tải sau nứt của kết cấu. Khi vết nứt đầu tiên xuất hiện, nó sẽ nhanh chóng lan rộng và dẫn đến sự phá hủy hoàn toàn. Đây là một rủi ro lớn đối với sự an toàn của công trình. Việc cải thiện độ dẻo dai, hay khả năng hấp thụ năng lượng và duy trì khả năng chịu tải sau khi xuất hiện vết nứt, là một mục tiêu quan trọng. Các nghiên cứu về bê tông cốt sợi polypropylene cho thấy rằng việc bổ sung sợi giúp vật liệu chuyển từ trạng thái phá hoại giòn sang phá hoại dẻo, nâng cao đáng kể độ an toàn và độ tin cậy của kết cấu.

III. Hướng dẫn thiết kế thành phần bê tông sợi PP cấp B20

Việc thiết kế thành phần bê tông sợi polypropylene cấp B20 đòi hỏi một quy trình tính toán và lựa chọn vật liệu cẩn thận để đảm bảo đạt được các yêu cầu về cường độ và tính công tác. Quy trình này dựa trên các tiêu chuẩn hiện hành như TCVN bê tông và kinh nghiệm thực tiễn. Mục tiêu là xác định tỷ lệ tối ưu giữa xi măng, cốt liệu, nước và hàm lượng sợi polypropylene để tạo ra một hỗn hợp bê tông vừa dễ thi công, vừa đạt được cường độ chịu néncường độ chịu uốn mong muốn sau khi đóng rắn. Việc lựa chọn vật liệu đầu vào đóng vai trò quyết định. Xi măng phải có mác phù hợp, như xi măng pooc lăng PCB 40 được sử dụng trong nghiên cứu. Cốt liệu lớn (đá dăm) và cốt liệu nhỏ (cát) phải thỏa mãn các yêu cầu về thành phần hạt, độ sạch và các chỉ tiêu cơ lý theo TCVN 7570:2006. Lượng nước nhào trộn được xác định dựa trên độ sụt bê tông yêu cầu và đặc tính của vật liệu, là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến cường độ và tính công tác của bê tông. Cuối cùng, hàm lượng sợi PP được lựa chọn dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm để tối ưu hóa khả năng chống nứt mà không làm ảnh hưởng tiêu cực đến tính công tác của hỗn hợp.

3.1. Lựa chọn vật liệu theo tiêu chuẩn TCVN bê tông

Chất lượng của bê tông sợi PP phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của các vật liệu thành phần. Trong nghiên cứu này, tất cả các vật liệu đều được lựa chọn và kiểm tra theo hệ thống Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN). Cụ thể: Xi măng sử dụng là loại pooc lăng hỗn hợp PCB 40 (theo TCVN 6260:2009), đảm bảo cường độ phát triển ổn định. Cốt liệu nhỏ là cát vàng sông Hồng, được sàng lọc và kiểm tra thành phần hạt, mô đun độ lớn theo TCVN 7570:2006. Cốt liệu lớn là đá dăm khai thác tại mỏ đá Hòa Thạch, có cường độ và thành phần hạt phù hợp yêu cầu. Nước trộn bê tông phải là nước sạch, không chứa tạp chất có hại theo TCVN 4506:2012. Sợi polypropylene được sử dụng có các đặc tính kỹ thuật rõ ràng về chiều dài, đường kính và cường độ chịu kéo, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế như ASTM C1116.

3.2. Phương pháp tính toán lý thuyết cấp phối bê tông B20

Việc tính toán lý thuyết cho cấp phối bê tông B20 bắt đầu bằng việc xác định các thông số đầu vào. Đầu tiên là xác định lượng nước nhào trộn (N) dựa trên độ sụt bê tông mục tiêu và kích thước hạt cốt liệu lớn nhất. Tiếp theo, tỷ lệ Nước/Xi măng (N/X) được xác định dựa trên cường độ yêu cầu của bê tông (B20) và mác của xi măng (PCB 40). Từ đó, lượng xi măng (X) cho 1m³ bê tông được tính toán. Hàm lượng sợi polypropylene được thêm vào theo các tỷ lệ phần trăm khác nhau so với thể tích hỗn hợp (ví dụ: 0%, 0.1%, 0.2%, 0.3%) để khảo sát ảnh hưởng của chúng. Cuối cùng, lượng cốt liệu lớn (Đ) và cốt liệu nhỏ (C) được xác định bằng phương pháp thể tích tuyệt đối, đảm bảo tổng thể tích các thành phần vật liệu (xi măng, cát, đá, nước, sợi và không khí) bằng 1m³. Kết quả tính toán lý thuyết này là cơ sở ban đầu để tiến hành trộn thử nghiệm và hiệu chỉnh trong phòng thí nghiệm.

IV. Phương pháp thí nghiệm cơ lý bê tông sợi polypropylene

Để đánh giá chính xác hiệu quả của sợi polypropylene, một loạt các thí nghiệm cơ lý bê tông đã được tiến hành một cách hệ thống và tuân thủ chặt chẽ các tiêu chuẩn hiện hành. Quá trình thí nghiệm được chia thành hai giai đoạn chính: đánh giá tính chất của hỗn hợp bê tông tươi và kiểm tra các đặc tính của bê tông đã đóng rắn. Đối với bê tông tươi, chỉ tiêu quan trọng nhất là tính công tác của bê tông, được đo bằng phương pháp thử độ sụt bê tông theo TCVN 3106:1993. Thí nghiệm này giúp đánh giá ảnh hưởng của việc thêm sợi đến độ dẻo và khả năng chảy của hỗn hợp, một yếu tố quan trọng trong quá trình thi công. Đối với bê tông đã đóng rắn, các mẫu thử (hình lập phương 15x15x15cm và dầm 15x15x60cm) được đúc và bảo dưỡng trong điều kiện tiêu chuẩn. Sau 28 ngày tuổi, các mẫu được đưa đi thí nghiệm để xác định hai chỉ tiêu cơ bản nhưng quan trọng nhất: cường độ chịu nén (theo TCVN 3118:1993) và cường độ chịu uốn (theo TCVN 3119:1993). Toàn bộ quy trình từ lấy mẫu, chế tạo đến thử nghiệm đều được kiểm soát nghiêm ngặt để đảm bảo kết quả thu được có độ chính xác và tin cậy cao.

4.1. Thí nghiệm xác định độ sụt và tính công tác bê tông

Tính công tác của bê tông được định nghĩa là sự dễ dàng trong việc vận chuyển, đổ khuôn và đầm nén mà không gây ra hiện tượng phân tầng, tách nước. Chỉ tiêu phổ biến nhất để đánh giá tính công tác là độ sụt bê tông, được xác định bằng côn sụt Abrams theo TCVN 3106:1993. Trong nghiên cứu, độ sụt được đo tại hai thời điểm: ngay sau khi trộn (S1) và sau 30 phút (S30) để đánh giá khả năng duy trì tính công tác theo thời gian. Việc thêm các sợi vi tổng hợp vào bê tông thường có xu hướng làm giảm độ sụt do chúng tạo ra một mạng lưới cản trở sự dịch chuyển của các hạt cốt liệu. Do đó, thí nghiệm này rất quan trọng để xác định hàm lượng sợi polypropylene tối ưu, vừa đủ để cải thiện khả năng chống nứt mà không làm cho hỗn hợp bê tông trở nên quá khô, khó thi công.

4.2. Đánh giá cường độ chịu nén theo TCVN 3118 1993

Cường độ chịu nén là chỉ tiêu cơ bản nhất để phân loại và đánh giá chất lượng bê tông. Thí nghiệm được thực hiện trên các mẫu lập phương kích thước tiêu chuẩn 150x150x150 mm, được bảo dưỡng 28 ngày. Các mẫu được đặt vào máy nén thủy lực và gia tải liên tục cho đến khi bị phá hoại. Tải trọng phá hoại tối đa ghi nhận được dùng để tính toán cường độ theo công thức: R = P/F, trong đó P là tải trọng phá hoại và F là diện tích chịu nén của mẫu. Theo các nghiên cứu trước đây, sợi polypropylene thường không làm tăng hoặc chỉ tăng nhẹ cường độ chịu nén, vì cơ chế chính của sợi là kiểm soát nứt chứ không phải tăng khả năng chịu lực nén. Tuy nhiên, thí nghiệm này là bắt buộc để xác nhận rằng việc thêm sợi không làm suy giảm cường độ chịu nén của bê tông cấp độ bền B20.

4.3. Kiểm tra cường độ chịu kéo khi uốn theo TCVN 3119 1993

Cường độ chịu uốn (hay cường độ chịu kéo khi uốn) là một chỉ tiêu cực kỳ quan trọng, phản ánh trực tiếp khả năng chống nứt của bê tông. Thí nghiệm được thực hiện trên các mẫu dầm, đặt trên hai gối tựa và chịu tải trọng tập trung ở giữa (sơ đồ 1 tải) hoặc tại hai điểm (sơ đồ 2 tải). Khi dầm bị uốn, vùng thớ dưới cùng sẽ chịu kéo. Cường độ chịu uốn được xác định tại thời điểm vết nứt đầu tiên xuất hiện. Đây chính là nơi mà tác dụng của bê tông cốt sợi polypropylene thể hiện rõ rệt nhất. Các sợi PP hoạt động như những cầu nối vi mô, giữ các mặt nứt lại với nhau, đòi hỏi một năng lượng lớn hơn để phá vỡ mẫu. Do đó, các nghiên cứu đều kỳ vọng rằng cường độ chịu uốn của bê tông có sợi PP sẽ cao hơn đáng kể so với bê tông thường. Kết quả từ thí nghiệm này là bằng chứng thuyết phục nhất về hiệu quả gia cường bê tông của sợi polypropylene.

V. Kết quả thực nghiệm và hiệu chỉnh cấp phối bê tông sợi PP

Sau quá trình tính toán lý thuyết, giai đoạn thực nghiệm và hiệu chỉnh cấp phối đóng vai trò quyết định để tìm ra thành phần tối ưu cho bê tông sử dụng sợi gia cường polypropylene có cấp độ bền B20. Các mẻ trộn thử nghiệm được tiến hành với các hàm lượng sợi polypropylene khác nhau (0%, 0.1%, 0.2%, 0.3%) để so sánh và đánh giá. Kết quả kiểm tra ban đầu cho thấy, việc thêm sợi PP làm giảm độ sụt bê tông, đòi hỏi phải hiệu chỉnh lại lượng nước hoặc sử dụng phụ gia cho bê tông để đảm bảo tính công tác của bê tông phù hợp với yêu cầu thi công. Về tính năng cơ học của bê tông, kết quả thí nghiệm ở tuổi 28 ngày đã khẳng định các giả thuyết ban đầu. Trong khi cường độ chịu nén không có sự thay đổi đáng kể, thậm chí có xu hướng giảm nhẹ ở hàm lượng sợi cao, thì cường độ chịu uốn lại cho thấy sự cải thiện vượt bậc. Điều này chứng tỏ hiệu quả rõ rệt của sợi PP trong việc nâng cao khả năng chống nứt và độ dẻo dai của vật liệu. Dựa trên việc phân tích tổng hợp các kết quả về độ sụt, cường độ nén và cường độ uốn, một thành phần cấp phối hợp lý đã được lựa chọn, cân bằng giữa các yếu tố kỹ thuật và kinh tế.

5.1. Phân tích ảnh hưởng của hàm lượng sợi đến tính năng cơ học

Kết quả thực nghiệm cho thấy hàm lượng sợi polypropylene có ảnh hưởng rõ rệt đến tính năng cơ học của bê tông. Đối với cường độ chịu uốn, khi tăng hàm lượng sợi từ 0% lên các mức cao hơn, cường độ uốn tăng lên đáng kể. Điều này là do các sợi PP phân tán trong nền bê tông đã cản trở sự hình thành và phát triển của các vết nứt vi mô dưới tác dụng của tải trọng uốn. Tuy nhiên, tồn tại một hàm lượng sợi tối ưu, nếu vượt qua ngưỡng này, hiệu quả gia cường có thể không tăng thêm, thậm chí giảm đi do các sợi có thể bị vón cục, tạo ra các điểm yếu trong cấu trúc. Đối với cường độ chịu nén, ảnh hưởng của sợi không rõ ràng. Ở hàm lượng thấp, cường độ nén gần như không đổi, nhưng khi hàm lượng sợi tăng cao, có thể gây khó khăn trong việc đầm nén, làm tăng độ rỗng và dẫn đến giảm cường độ chịu nén.

5.2. Lựa chọn thành phần hợp lý cho bê tông sợi PP cấp B20

Việc lựa chọn thành phần hợp lý cho bê tông sợi PP cấp B20 phải dựa trên sự cân bằng giữa nhiều yếu tố. Mục tiêu không chỉ là tối đa hóa một chỉ tiêu duy nhất (như cường độ uốn) mà còn phải đảm bảo các yêu cầu khác. Cụ thể, cấp phối được chọn phải đảm bảo: (1) Cường độ chịu nén đạt và vượt yêu cầu thiết kế của cấp B20 (M250). (2) Tính công tác của bê tông (độ sụt) phải nằm trong giới hạn cho phép để dễ dàng thi công. (3) Hiệu quả cải thiện cường độ chịu uốnkhả năng chống nứt là cao nhất. (4) Chi phí vật liệu, bao gồm cả chi phí cho sợi PP, là hợp lý và có tính cạnh tranh. Dựa trên phân tích tổng hợp các kết quả thí nghiệm cơ lý bê tông, nghiên cứu đã đề xuất một cấp phối bê tông B20 tối ưu với một hàm lượng sợi polypropylene cụ thể, mang lại sự cải thiện tốt nhất về khả năng chống nứt mà vẫn duy trì được cường độ nén và tính công tác cần thiết.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bê tông được biết đến rộng rãi là một loại nguyên vật liệu xây dựng linh hoạt và ít tốn kém, tuy nhiên nó cũng có những mặt hạn chế. Bê tông có khả năng chịu nén khá tốt, nhưng khả năng chịu kéo lại kém, nên nghiên cứu cải thiện khả năng chịu kéo của bê tông là vấn đề luôn được quan tâm. Đặc biệt khi còn mới là những khe nứt nhỏ không thể thấy bằng mắt thường thì bê tông đã có chiều hướng gãy nứt, thường xảy ra do sức căng từ bên trong làm nó lún và co ngót sau 24 giờ. Còn nứt sau một thời gian sử dụng bắt nguồn từ sự co ngót do thoát hơi nước qua thời gian dài dẫn đến khô và gãy.

Trong cả hai trường hợp trên thì những vết nứt này có thể ảnh hưởng xấu đến tổng thể nguyên vẹn của bê tông và không cho phép nó duy trì trạng thái ban đầu cũng như không đạt được hiệu quả cao nhất. Để khắc phục những nhược điểm đó của bê tông thì việc sử dụng bê tông sợi gia cưởng là một giải pháp hữu hiệu được lựa chọn. Nó có thể giúp cho bê tông giảm rò rỉ, co ngót và giảm lún sụt chống rạn nứt, rut ngắn chu trình sửa chữa tạo độ bền lớn ngay khi hoàn thành, nâng cao khả năng chống chịu, chống nứt gãy hoặc co ngót do độ ẩm hoặc nhiệt độ, sức chịu nén tốt, chống chịu tốt sau khi có vết nứt đầu tiên,. Các công trình nghiên cứu về chủ đề này cũng khá phổ biến, tuy nhiên nhằm đưa ra được kết quả đúng và chính xác, khách quan cần phải tiến hành thí nghiệm trực tiếp trên các mẫu.

Với mục đích kiểm chứng bằng thực nghiệm một số tính chất của bê tông thường và bê tông sử dụng sợi gia cường; qua đó làm rõ, so sánh và rút ra kết luận cho những ưu nhược điểm ở trên cả hai loại bê tông. Từ những phân tích trên: đề tài : “ Thiết kế và thử nghiệm tính năng của bê tông sử dụng sợi gia cường polypropylene có cấp độ bền B20” có tính cấp thiết và thực tiễn cao. 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về bê tông 1.

Một số vấn đề chung về bê tông Bê tông xi măng (bê tông) là loại vật liệu đá nhân tạo nhận được sau khi làm rắn chắc hỗn hợp bê tông. Hỗn hợp bê tông (bê tông tươi) là hỗn hợp bao gồm: cốt liệu, xi măng, nước, phụ gia (nếu có) được lựa chọn tính toán thành phần hợp lý, nhào trộn đồng đều, có tính dẻo, tính dính, độ linh động, nhưng chưa rắn chắc và chưa có cường độ. Bê tông có cấu trúc phức tạp, được tạo thành từ ba thành phần cơ bản: cốt liệu, đá xi măng và hệ thống lỗ rỗng, mao quản. Cốt liệu là những hạt cát, đá, có hình dạng, kích thước, đặc trưng, bề mặt, cường độ khác nhau.

Đá xi măng được tạo thành từ xi măng tương tác với nước để một giời gian cho rắn chắc lại. Hệ thống mao quản lỗ rỗng có thể chứa nước, không khí và hơi nước. Cốt liệu là thành phần chính, tạo nên bộ khung chịu lực của bê tông. Nó chính là các hạt vật liệu dạng rời, có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo, có thành phần hạt xác định, khi nhào trộn với xi măng và nước thì sẽ đông cứng, rắn chắc như đá.

Theo kích thước hạt, cốt liệu dùng để chế tạo bê tông được phân ra cốt liệu nhỏ và cốt liệu lớn. Cốt liệu nhỏ (fine aggregate) là hỗn hợp các hạt cốt liệu có kích thước chủ yếu từ 0,14mm đến 0,5mm. Cốt liệ nhỏ có thể là cát tự nhiên, cát nghiền hoặc hỗn hợp cát tự nhiên và cát nghiền. Cốt liệu lớn (coare aggregate) là hỗn hợp các hạt cốt liệu có kích thước 5mm đến 70mm.

Cốt liệu lớn có thể là đá dăm, sỏi, sỏi dăm, hoặc hỗn hợp các loại với nhau. 2 Đá dăm (crushed rock) là loại cốt liệu lớn được sản xuất bằng cách nghiền đá tự nhiên. Sỏi (gravel) là loại cốt liệu lớn được hình thành do quá trình phong hóa của tự nhiên. Sỏi dăm (crushed gravel) là loại cốt liệu lớn được sản xuất bằng cách đập, nghiền sỏi, cuội có kích thước lớn.

Cốt liệu lớn có thể được cung cấp dưới dạng hỗn hợp nhiều cỡ hạt hoặc các cỡ hạt riêng biệt. Thành phần của hạt cốt liệu lớn biểu thị bằng lượng sót tích lũy trên các mặt sàng tiêu chuẩn, được quy định theo tiêu chuẩn hiện hành của Việt Nam: TCVN 7570-2006. Trong bê tông, cốt liệu lớn sau khi được hồ xi măng gắn kết lại sẽ đóng vai trò là bộ khung chịu lực; cốt liệu nhỏ sẽ lấp lỗ rỗng cốt liệu lớn làm tăng độ đặc, đồng thời đảm bào khả năng co ngót cho bê tông; chết kết dính và nước là thành phần hoạt tính của bê tông, nó lấp đầy lỗ rỗng giữa các hạt cốt liệu, đồng thời đóng vai trò làm chất bôi trơn tạo độ dẻo cho bê tông; trong quá trình ngưng kết rắn chắc, hồ chất kết dính có nhiệm vụ liên kết các hạt cốt kiệu với nhau tạo thành một khối; khi cần cải thiện một số tính chất của hỗn hợp bê tông và bê tông, đáp ứng yêu cầu thi công và sử dụng có thể sử dụng thêm chất phụ gia. Khi nghiên cứu cũng như sử dụng các loại bê tông, ta thường đặc biệt quan tâm đến tính công tác (độ sụt) của hỗn hợp và cường độ của bê tông.

Độ sụt là chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá tính công tác, đây là tính chất đảm bảo tính dễ tạo hình, dễ thi công cho hỗn hợp bê tông, nó biểu thị khả năng lấp đầy khuôn nhưng vẫn đảm bảo được độ đồng nhất trong một điều kiện đầm nén nhất định. Hỗn hợp có độ sụt lớn, việc thi công có phần dễ dàng và nhanh hơn, nhưng độ đồng bộ thành phần cũng như chất lượng của bê tông khó được đảm bảo. Việc lựa chọn độ sụt của bê tông sẽ phụ thuộc và đặc điểm của kết cấ, điều kiện thi công. Cường độ là đặc trưng cơ bản, phản ánh khả năng của bê tông chống lại sự phá hoại đươi tác dụng cảu tải trọng.

Khi đã đông cứng, có khả năng chịu nén và 3 chịu kéo, nhưng cường độ chịu nén rất nhỏ (trị số bằng 5-10% cường độ chịu nén), do đó cường độ chịu nén là tiêu chí quan trọng nhất việc phân cấp và phân Mác bê tông. Tính chất cơ bản của bê tông Bê tông là lâu bền và thỏa mãn những mặt khác trong những điều kiện yêu cầu bảo vệ tránh khỏi tác động cơ sở có thể không phù hợp tất cả khi ở những nơi có điều kiện bất lợi dẫn đến ảnh hưởng phá hủy bê tông. Chống chịu nước là cơ sở của kết cấu thủy hóa, nhưng cường độ và độ bền vững là yêu cầu cơ sở của mọi công trình. Rõ ràng rằng trong thực tiễn việc thỏa mãn mọi yêu cầu để bê tông hoàn hảo sẽ làm giảm tính kinh tế vì vậy yêu cầu kết cấu mong muốn phải thỏa mãn những yêu cầu hợp lý về tuổi thọ của công trình, độ an toàn, hình dáng.

Hay nói cách khác kết cấu phải được thiết kế đủ và việc thi công bê tông hợp lý đảm bảo đủ vững trãi để chịu được tải trọng thiết kế và kinh tế, nó không phải chỉ là chi phí ban đầu mà còn các điều kiện khác cho đến giai đoạn cuối của tuổi thọ công trình. Tính công tác của bê tông Tính công tác của bê tông được định nghĩa là sự dễ dàng chuyển giao, vẫn chuyển và đổ tại điểm đổ với giảm thiểu nhất khả năng mất tính đồng nhất của bê tông được làm bởi nhóm vật liệu cho trước. Sự quan trọng của độ dẻo và đồng bộ được nhấn mạnh là cơ sở để tính công tác được xác định khả năng phục vụ và hình dạng của kết cấu. Tính công tác phụ thuộc vào các vật liệu phối trộn cũng như các đặc tính của từng loại vật liệu.

Cấp độ của tính công tác được yêu cầu phù hợp với việc đổ và cố kết bê tông được điều chỉnh bằng kích thước và hình dạng của kết cấu và khoảng cách, kích cỡ của vật liệu gia cố. Qua nhiều năm đã có nhiều thiết bị được phát kiến để đánh giá tính công tác của bê tông. Tuy nhiên không có phương pháp nào đánh giá hết được các đặc tính liên quan. Những đặc tính đó là dễ đổ, hoàn thiện chất lượng, và tách nước và các dạng phân tầng khác.

Việc sử dụng cuốn khí làm giảm thiểu ảnh hưởng khô ráp của bê tông trộn, nhưng tuy 4 nhiên việc đánh giá tính công tác vẫn độc lập một số cái vẫn phải dựa trên quyết định bằng kinh nghiệm. Dòng chảy của bê tông là thành phần quan trọng của tính công tác và có thể đo lường bằng dụng co đo chính xác, hợp lý gọi là dụng cụ đo độ sụt. Độ sụt hiệu quả là độ sụt của hỗn hợp của bê tông có thể vào mọi ngóc ngách khi đổ bê tông khi thi công và có đầm rung tốt. Nói chung độ sụt càng cao thì phải sử dụng thêm nhiều xi măng nước và phụ gia vì vậy nó càng có khuynh hướng làm cho bê tông tách nước và phân tầng của đá và vữa.

Tính lâu bền Bê tông lâu bền là có khả năng chống chịu được ở mức độ thỏa mãn những ảnh hưởng trong quá trình sử dụng như phong hóa, tác động hóa học hay bào mòn. Nhiều phòng thí nghiệm đã được dựng lên để đánh giá tính lâu bền của bê tông nhưng là rất khó để có thể đạt được mối liên quan trực tiếp kết quả trong phòng thí nghiệm và quá trình sử dụng ở bên ngoài. Chống chịu quá trình phong hóa- phá hủy bởi thời tiết gây ra bởi các hoạt động phá vỡ như đóng băng và tan băng, dãn nở và co ngót, dưới sự kiềm chế kết quả từ sự biến đổi nhiệt độ, liên tục ướt và khô. Bê tông có khả năng chống chịu tốt nếu cẩn thận khi lựa chọn vật liệu cũng như tất cả các công đoạn trong quản lý công việc.

Việc đưa một hàm lượng tối ưu các bong bóng khí vào bê tông khi trộn giúp cải thiện tính lâu bền của bê tông bằng việc cắt giảm hàm lượng nước và giúp cải thiện tính công tác của bê tông. Làm cho bê tông đậm đặc lại giúp tăng khả năng chống chịu nước hay sử dụng sợi giúp tránh nứt vỡ do co ngót bê tông do biến đổi nhiệt độ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ